Home Lịch sử lớp 12 Mỹ – Tây Âu- Nhật Bản từ năm 1945 – 2000

Mỹ – Tây Âu- Nhật Bản từ năm 1945 – 2000

242
0

Khái quát Mỹ – Tây Âu- Nhật Bản 1945  – 2000

* Kiến thức cần nắm vững:

– Tình hình kinh tế, khoa học – kỹ thuật.

– Chính sách đối ngoại.

– Liên hệ với Việt Nam

I. NƯỚC MỸ

  1. Tình hình kinh tê

– Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành nước giàu mạnh nhất, nắm ưu thế hơn hẳn về kinh tế tài chính trên toàn thế giới.

+ Sản lượng công nghiệp Mỹ luôn chiếm hơn một nửa sản lượng công nghiệp toàn cầu (hơn 50% vào năm 1948).

+ Sản lượng nông nghiệp bằng 2 lần tổng sản lượng của Anh, Pháp, CHLB Đức, Ý, Nhật cộng lại (1949).

+ Trên 50% tàu bè đi lại trên mặt biển là của Mỹ.

+ Trong nửa sau những năm 40 tổng sản phẩm quốc dân tăng trung bình hằng năm là 6%.

+ Nền kinh tế Mỹ trong những thập niên 50, 60 chiếm gần 40% tổng sản phẩm kinh tế thế giới.

+ CDP năm 2000 là 9765 tỉ USD, thu nhập đầu người là 34.600USD, tạo ra 25% tổng sản phẩm của toàn thế giới.

– Trong khoảng hai thập niên đầu sau chiến tranh (50, 60), Mỹ là trung tâm kinh tế, tài chính duy nhất của thế giới.

– Từ 1973 đến 1991, dưới tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng, kinh tế Mỹ lâm vào thời kỳ suy thoái và khủng hoảng. Mỹ không còn giữ được địa vị độc tôn

* Hạn chế:

– Vị trí kinh tế suy giảm do sự vươn lên mạnh mẽ của Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc và các nước khác.

– Kinh tế phát, triển nhanh nhưng không ổn định vì thường xảy ra những cuộc suy thoái theo chu kỳ về kinh tế.

– Kinh tế Mỹ phát triển nhanh phụ thuộc vào chiến tranh, nếu không có chiến tranh kinh tế Mỹ phát triển chậm lại.

– Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn dẫn đến tạo nên sự bất ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội. Ở Mỹ, sự phân cực giàu nghèo là vô cùng lớn, khoảng 400 người có thu nhập mỗi năm từ 185 triệu đô la trở lên và 25 triệu người sống dưới mức nghèo khổ. Các tệ nạn xã hội, ma túy, rửa tiền, ăn chơi đồi trụy là những nhức nhối từ hệ quả kinh tế phát triển.

– Việc tăng cường chạy đua vũ trang với những chi phí khổng lồ làm giảm tiềm lực về sức cạnh tranh của kinh tế Mỹ. Mỹ là nước chi cho quốc phòng lớn nhất với hơn 50% tổng chi quốc phòng của thế giới.

– Nợ nước ngoài ngày càng tăng, Mỹ đang trở thành con nợ lớn của Nhật Bản, Trung Quốc…

  1. Khoa học – kỹ thuật: Khoa học kỹ thuật của Mỹ đứng đầu thế giới và tiếp tục phát triển hết sức mạnh mẽ

– Mỹ có những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, chính sách thu hút nhân tài đặc biệt.

– Trong chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nhà khoa học lỗi lạc trên thế giới chạy sang Mỹ (vì ở đây có điều kiện hòa bình và đầy đủ phương tiện làm việc…) nên Mỹ là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật lần 2 và đạt được nhiều thành tựu kỳ diệu.

– Đi đầu trong việc sáng tạo ra những công cụ mới, năng lượng mới, vật liệu mới, “Cách mạng xanh” trong nông nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, chinh phục vũ trụ và sản xuất vũ khí hiện đại.

– Mỹ chiếm tới 1/3 lượng bản quyền phát minh sáng chế của toàn thế giới.

– Nhờ thành tựu cách mạng khoa học – kỹ thuật làm cho kinh tế Mỹ phát triển nhanh, đời sống nhân dân được nâng cao.

– Những thành tựu kỳ diệu nhất trong lĩnh vực khoa học – kỹ thuật được Mỹ ứng dụng chủ yếu trong sản xuất vũ khí và công cuộc chinh phục vũ trụ.

  1. Chính sách đối ngoại

– Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, với tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, độc quyền sở hữu vũ khí hạt nhân, chính sách đối ngoại cơ bản, nhất quán của Mỹ là luôn luôn theo đuổi ý đồ bá chủ thế giới (thông qua thực hiện các “chiến lược toàn cầu”).

– Năm 1947, Tổng thống Truman đề ra “Chủ nghĩa Truman”, mở đầu thời kỳ bành trướng vươn lên thống trị thế giới của đế quốc Mỹ.

– Tiếp đó, hầu như mỗi đời Tổng thống Mỹ khi lên cầm quyền lại đề ra một học thuyết hoặc đường lối của mình để thực hiện “chiến lược toàn cầu” như: “chủ nghĩa Aixenhao” (chủ nghĩa lấp chỗ trống – 1953); “chiến lược hòa bình” của GiônKennơđi (1961); “học thuyết Nichxơn” (1 969); “học thuyết Rigân” (1980); “học thuyết Busơ” (1989); “chiến lược cam kết và mở rộng” của B. Clintơn ( 1993)… (Mỗi học thuyết lại đi kèm các loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới và được Mỹ áp dụng, thử nghiệm ở nhiều nơi trên thế giới, tiêu biểu là Việt Nam.)

– Dù mang tên gọi khác nhau, hình thức, biện pháp, bước đi khác nhau nhưng “chiến lược toàn cầu” đều nhằm 3 mục tiêu:

+ Ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới tiêu diệt Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (mục tiêu chủ yếu nhất).

+ Đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân, phong trào hòa bình dân chủ và tiến bộ trên thế giới.

+ Khống chế nô dịch các nước Đồng Minh của Mỹ, thông qua lôi kéo, tập hợp vào các khối quân sự, viện trợ kinh tế…

– Biện pháp thực hiện:

+ Chính sách cơ bản: “chính sách thực lực” (tức chính sách dựa vào sức mạnh Mỹ).

+ Lập ra các khối quân sự: NATO, SEATO, ANZUS, CENTO… ra sức chạy đua vũ trang, lập hàng chục nghìn căn cứ quân sự bao vây Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, quân đội Mỹ hiện diện ở khắp nơi trên thế giới.

+ Viện trợ kinh tế và quân sự cho các nước Đồng Minh, thông qua đó khống chế về chính trị, lôi kéo Đồng Minh vào các khối quân sự hoặc cho Mỹ đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ.

+ Phát động chiến tranh xâm lược hoặc can thiệp vũ trang, gây bạo loạn lật đổ ở khắp các khu vực trên thế giới.

– Những thành công và thất bại của Mỹ trong việc thực hiện “chiến lược toàn cầu”.

+ Mỹ đã thực hiện được một số mưu đồ: thành lập các khối quân sự, các tổ chức kinh tế qua đó khống chế, nô dịch các nước Đồng Minh; hất cẳng Anh, Pháp ra khỏi khu vực chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á, Trung Cận Đông; thông qua Ixraen để khống chế các nước Ả Rập; góp phần làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu.

+ Thông qua thực hiện chiến lược toàn cầu, Mỹ đã để lại sự hiện diện tại nhiều khu vực trên thế giới, qua đó đảm bảo “lợi ích của Mỹ”.

+ Song Mỹ cũng vấp phải những thất bại nặng nề ở Trung Quốc 1949, Triều Tiên 1950, Cuba 1959, Iran… Đặc biệt là thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam 1954 – 1975.

+ Do chính sách đối ngoại hiếu chiến, hiện nay Mỹ đang là đối tượng số một của chủ nghĩa khủng bố quốc tế, tiêu biểu là vụ khủng bố ngày 11/9/2001 đã làm thay đổi chính sách đối nội và đối ngoại của nước Mỹ.

  1. Đối với Việt Nam: Quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam có nhiều bước thăng trầm qua các giai đoạn

a. Từ 1939- 1954.

– Từ 1941 đến 1945, Mỹ giúp lực lượng Việt Minh chống Nhật, viện trợ thuốc men, vũ khí cho Việt Minh để đổi lại Việt Minh cứu giúp các phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi. Cách mạng tháng Tám thành công, Mỹ có đại diện ở Hà Nội. Chủ tịch Hồ chí Minh từng viết thư mong muốn Mỹ công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

– Từ năm 1947, Mỹ gián tiếp can thiệp vào Việt Nam (thông qua kế hoạch Mác San, viện trợ cho Pháp hơn 2 tỷ USD để phục hồi kinh tế và giảm gánh nặng từ cuộc chiến tranh ở Việt Nam), cuối năm 1949 Mỹ chính thức dính líu vào chiến tranh Việt Nam.

– Năm 1950 Mỹ đã công nhận chính phủ bù nhìn Bảo Đại và viện trợ cho pháp, lợi dụng khó khăn của Pháp, Mỹ ngày càng can thiệp sâu hơn vào Đông Dương viện trợ cho Pháp đã kéo dài chiên tranh ở Đông Dương. Tháng 12/1950 lập phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ (MAAG), giúp Pháp thực hiện kế hoạch Nava, xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ viện trợ khi Điện Biên Phủ sắp thất thủ.

– Tại hội nghị Giơnevơ 1954, Mỹ trì hoãn kéo dài hội nghị, không ký vào văn bản hiệp định.

b. Từ 1954 đến 1975.

– Từ 1954, Mỹ hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam. Trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ:

+ Ngày 25/6/1954, trước khi hiệp định Giơnevơ được ký, Mỹ dựng lên chính quyền tay sai độc tài Ngô Đình Diệm ở miền Nam. Công khai ủng hộ Diệm về kinh tế, chính trị, quân sự.

– Mỹ thực hiện các chiến lược chiến tranh xâm lược Việt Nam:

+ Từ 1954 – 1960, thực hiện chiến lược “chiến tranh một phía”.

+ Từ 1961 đến giữa năm 1965, thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”.

+ Từ 8/1965 – 1968, thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, gây chiến tranh phá hoại lần thứ nhất đối với miền Bắc.

+ Từ 1969 – 1973, thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông

Dương hóa chiến tranh”, gây chiến tranh phá hoại lần 2 đối với Miền Bắc.

+ 27/1/1973, Mỹ ký hiệp định Pari công nhận độc lập, thống nhất, chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cam kết rút hết quân Mỹ về nước.

+ Từ 1973 – 1975, Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ cho chính quyền Sài Gòn mà thực chất là tiếp tục “Việt Nam hóa chiến tranh”.

– Với đại thắng mùa xuân năm 1975 của nhân dân ta, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam từ 1954 – 1 975 đã bị thất bại hoàn toàn.

– Từ năm 1975 – 1995 quan hệ Việt – Mỹ bị đóng băng do lệnh cấm vận của Mỹ. Đầu những năm 90 quan hệ hai bên có chiều hướng hòa dịu hơn và đến năm 1995 hai nước đặt quan hệ ngoại giao chính thức.

– Ngày nay, chính sách đối ngoại của Đảng ta là “bạn của tất cả các nước”, với Mỹ, ta chủ trương “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”; thực hiện chủ trương này, quan hệ Việt – Mỹ đã được ký kết (10/12/2001), mở ra hướng phát triển đầy triển vọng cho cả hai nước.

* Việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam có tác động đối với kinh tế hai nước:

– Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ 1994, hai nước trở thành đối tác trên nhiều mối quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư, nhiều hiệp định song phương đã được ký kết, các chương trình tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và thúc đẩy hợp tác thương mại giữa hai nước.

– Việt Nam đã thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp Mỹ, sản phẩm hàng hóa Mỹ chiếm thị phần lớn ở Việt Nam.

– Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, các doanh nghiệp Mỹ trao đổi kinh nghiệm quản lý, khoa học công nghệ cho các doanh nghiệp Việt Nam, Việt Nam cũng xuất khẩu lao động sang Mỹ.

Nước Mỹ Tây Âu Nhật Bản 1945 -2000
Nước Mỹ Tây Âu Nhật Bản 1945 -2000

Câu hỏi củng cố:

  1. Trình bày nội dung cơ bản chiến lược toàn cầu của Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1973 và việc triển khai chiến lược đó ở Tây Âu trong những năm 1947 – 1 949.
  1. Trình bày khái quát quá trình Mỹ đi từ can thiệp đến trực tiếp xâm lược nước ta từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến 1975. Giải thích nguyên nhân? kết quả?
  2. Những nhân tố thúc đẩy kinh tế Mỹ phát triển nhanh chóng trong giai đoạn 1945 – 1973? Việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với giữa Mỹ và Việt Nam có tác động đối với kinh tế hai nước như thế nào:

II. NHẬT BẢN

Là nước bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản phải chịu những hậu quả hết sức nặng nề, bị chi phối nhiều mặt trong trật tự Ianta. Tuy nhiên, với tinh thần tự lực tự cường, những chính sách đúng đắn và tận dụng tốt các cơ hội, điều kiện từ bên ngoài. Nhật Bản đã nhanh chóng vươn lên trở thành một siêu cường kinh tế, một trung tâm kinh tế – tài chính thế giới. Đó là sự “thần kỳ” Nhật Bản trong những năm 60, 70 của thế kỉ XX.

  1. Sự phát triển kinh tế

a. Tình hình phát triển:

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật là nước bại trận, bị Mỹ chiếm đóng theo

chế độ quân quản. Đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, kinh tế khó khăn, mất hết thuộc địa, nghèo tài nguyên, thất nghiệp, thiếu nguyên liệu, lương thực và lạm phát. Sản xuất công nghiệp năm 1 946 chỉ bằng 1/4 so với trước chiến tranh. Nhật phải dựa vào “viện trợ” kinh tế của Mỹ dưới hình thức vay nợ để phục hồi kinh tế.

– Quá trình phát triển kinh tế Nhật trải qua các giai đoạn:

+ Từ 1945 đến 1952: Thời kỳ phục hồi kinh tế: Kinh tế phát triển chậm chạp và phụ thuộc chặt chẽ vào kinh tế Mỹ.

Bộ chỉ huy tối cao lực lượng Đồng Minh (SCAP) đã thực hiện 3 cuộc cải cách lớn (thủ tiêu chế độ tập trung kinh tế; Cải cách ruộng đất; Dân chủ hóa lao động), dựa vào nỗ lực của bản thân và sự viện trợ của Mỹ, đến khoảng 1950 – 1951, kinh tế Nhật đã phục hồi.

+ Từ 1952 đến 1960: Giai đoạn kinh tế Nhật phát triển nhanh, nhất là sau khi

Mỹ phát động chiến tranh xâm lược Triều Tiên (nhờ những đơn đặt hàng quân sự của Mỹ).

+ Từ 1960 đến 1973: Giai đoạn thần kỳ Nhật Bản: Do Mỹ sa lầy trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhờ những đơn đặt hàng quân sự khổng lồ của Mỹ, kinh tế Nhật có cơ hội cất cánh, đạt bước phát triển “thần kỳ” (chỉ trong vòng hơn 20 năm 1950 – 1 973 tổng sản phẩm quốc dân của Nhật tăng gấp 20 lần) đuổi kịp rồi vượt các nước Tây Âu, vươn lên đứng hàng thứ 2 (sau Mỹ) trong thế giới tư bản chủ nghĩa.

– Công nghiệp: Đạt được những bước phát triển nhanh: Nhật Bản đi đầu trong các ngành công nghiệp dân dụng, công nghiệp sản xuất tàu biểu (50% thế giới), xe hơi, thép, xe máy, máy điện tử, hàng dân dụng..

Nông nghiệp:

+ Phát triển theo hướng thâm canh, áp dụng khoa học – kỹ thuật ở mức độ rất cao (cơ giới hóa, hóa học hóa, thủy lợi hóa, và điện khí hóa).

+ Lương thực tự túc được 80% nhu cầu trong nước (1969).

+ Ngành chăn nuôi tự giải quyết được 2/3 nhu cầu thịt sữa.

+ Ngành đánh cá rất phát triển, các tàu đánh cá của Nhật hiện diện khắp các đại dương.

+ Tài chính: Từ thập kỷ 70, trở thành siêu cường kinh tế tài chính thế giới.

+ Dự trữ vàng và ngoại tệ vượt Mỹ.

=> Nhật trở thành một trong 3 trung tâm kinh tế, tài chính của thế giới, trở thành một siêu cường kinh tế. Nhiều người gọi là “Thần kỳ Nhật Bản”.

+ Từ 1973 đến 1991:

– Sau cuộc khủng hoảng năng lượng, Nhật tập trung phát triển kinh tế theo chiều sâu.

– Từ thập kỷ 80 Nhật trở thành siêu cường tài chính số 1 thế giới. Là chủ nợ của thế giới.

– Hàng hóa Nhật xâm nhập, cạnh tranh khắp thị trường thế giới.

+ Từ 1991 đến 2000.

– Kinh tế Nhật lâm vào suy thoái nhưng vẫn giữ vững vị trí là một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính thế giới.

– CDP năm 2000 là 4746 tỉ USD, thu nhập đầu người là 37 408 USD.

b. Nguyên nhân của sự phát triển:

– Nhân tố con người được để cao, người lao động Nhật Bản có năng lực, kỹ thuật, kỷ luật và tinh thần phấn đấu rất cai. Nhật Bản coi con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định hàng đầu cho sự phát triển kinh tế.

– Biết lợi dụng và thu hút nguồn vốn của nước ngoài, để tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp then chốt: Cơ khí, luyện kim, hóa chất, điện tử…

– Biết sử dụng có hiệu quả các thành tự khoa học – kỹ thuật để tăng lãi suất, cải tiến kỹ thuật và hạ giá thành hàng hóa.

– Do hạn chế về tài nguyên thiên nhiên, Nhật Bản biết “len lỏi” xâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế.

– Lợi dụng sự bảo trợ về quân sự của Mỹ, Nhật Bản không có quân đội thường trực, ít phải chi tiêu về quân sự (dưới 1 % GDP), nên tập trung vốn phát triển công nghiệp dân dụng, xây dựng kinh tế.

– Biên chế nhà nước và bộ máy hành chính của Nhật Bản hết sức gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả cao.

– Những cải cách dân chủ sau chiến tranh tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển.

– Truyền thống “tự lực, tự cường” của nhân dân vươn lên xây dựng đất nước, cộng với tài điều hành kinh tế của giới kinh doanh và vai trò điều tiết của nhà nước.

* Nguyên nhân quan trọng nhất để Nhật có bước phát triển thần kỳ về kinh tế là tận dụng được thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật.

Lý do:

– Nhật Bản là quốc gia hết sức nghèo tài nguyên thiên nhiên, hầu hết nguyên, nhiên liệu cho phát triển kinh tế đều phải nhập khẩu, do vậy Nhật Bản rất chú trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu, tận dụng tối đa thành tựu khoa học kỹ thuật cho phát triển kinh tế.

– Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Nhật hết sức coi trọng khoa học – kỹ thuật: Vừa mua phát minh của nước ngoài, vừa phát triển cơ sở trong nước.

– Tính đến năm 1968, Nhật Bản đã mua bằng phát minh của nước ngoài trị giá 6 tỉ USD, trong khi nếu đầu tư nghiên cứu phải tốn đến 200 tỉ USD.

– Nhật Bản có hàng trăm viện khoa học – kỹ thuật tập trung nghiên cứu khoa học ở mức độ rất cao.

– Do đó, Nhật Bản đứng đầu thế giới về trình độ phát triển khoa học – kỹ thuật, đặc biệt trong các ngành công nghiệp dân dụng.

– Nhật Bản chú trọng cải cách giáo dục quốc dân (công nghệ chất xám) để giữ vững bản sắc truyền thống dân tộc, đào tạo những người yêu nước có năng lực và có ý chí vươn lên để thích nghi với sự biến đổi của thế giới.

  1. Về khoa học – kĩ thuật

– Nhật Bản rất coi trọng phát triển khoa học – kĩ thuật:

+ Có hàng trăm viện khoa học kỹ thuật, đi sâu vào công nghiệp dân dụng, ít chú ý đến công nghiệp quân sự.

+ Nhật vừa chú ý đến phát triển các cơ sở nghiên cứu trong nước vừa chú ý mua các phát minh của nước ngoài, (nét nổi bật trong phát triển khoa học kỹ thuật của Nhật Bản, tìm cách nhập kỹ thuật hiện đại và phương pháp sản xuất tiên tiến).

+ Hiện nay Nhật được xếp vào một số quốc gia đứng hàng đầu về trình độ phát triển khoa học – kỹ thuật, đặc biệt trong các ngành công nghiệp dân dụng.

– Nhật rất quan tâm đến việc cải cách nền giáo dục quốc dân, quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo những con người có ý chí vươn lên trong mọi hoàn cảnh, có năng lực, giữ vững bản sắc dân tộc của mình.

* Hạn chế

Kinh tế Nhật Bản cũng bộc lộ những mặt hạn chế và nhược điểm như:

– Nền kinh tế mất cân đối lớn (công nghiệp Nhật cạnh tranh khắp thế giới, nông nghiệp phải nhập khẩu).

– Tập trung quá mức vốn và nhân lực vào ba trung tâm công nghiệp (Tokyo, Osaka, Nagoya): 60 triệu dân nhưng chỉ chiếm 1.25% diện tích cả nước.

– Thiếu tài nguyên: Năng lượng, nguyên liệu, lương thực.

– Sự cạnh tranh, chèn ép của Mỹ, Tây Âu, Trung Quốc và các nước NICs

Sự phân hóa hai cực giàu – nghèo và mâu thuẫn xã hội ngày càng tăng

– Sự già hoá về dân số.

– Thiên tai xảy ra thường xuyên, động đất, núi lửa, sóng thần, gây thảm họa hạt nhân như ở nhà máy Fukusima…

  1. Chính sách đối ngoại

– Sau chiến tranh thế giới thứ hai, do là nước bại trận, bị Mỹ chiếm đóng, Nhật hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ về mặt chính trị quân sự

– Với Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật (1951), Nhật trở thành căn cứ chiến lược của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương, tiền đồn chống chủ nghĩa xã hội và phong trào giải phóng dân tộc.

– Trong chính sách đối ngoại, Nhật tìm mọi cách vươn lên thành đế quốc kinh tế, áp đặt sự thống trị về kinh tế, tìm mọi cách xâm nhập, giành giật thị trường ở các khu vực trên thế giới, đặc biệt là tăng cường quan hệ với các nước châu Á – Thái Bình Dương.

– Để thể hiện vai trò của mình đối với các nước thuộc khu vực Đông Nam Á, 8/1977 tại hội nghị các nước ASEAN (họp ở Manila, thủ đô Philipin) thủ tướng Nhật Phukuda đã trình bày khá toàn diện chính sách đối ngoại của Nhật (sau gọi là học thuyết Phukuda) gồm 3 nội dung :

+ Nhật Bản không bao giờ trở thành cường quốc quân sự.

+ Nhật Bản cố gắng thiết lập quan hệ hợp tác và hữu nghị với các nước Đông Nam Á.

+ Nhật hợp tác với các nước ASEAN để góp phần vào việc giữ gìn hoà bình và thịnh vượng chung ở Đông Nam Á.

– Trong điều kiện và tình hình mới, học thuyết Phukuda được tiếp tục bởi học thuyết Kaiphu (1999) rồi sau đó là học thuyết Hasimôtô (1997).

– Như vậy, trong vài thập niên gần đây, Nhật Bản đã trở thành đế quốc kinh tế, dựa vào sức mạnh kinh tế để xâm nhập mở rộng thế lực ra thế giới, nhất là khu vực Đông Nam Á.

Tình hình Nhật Bản 1945 - 2000
Tình hình Nhật Bản 1945 – 2000

Câu hỏi củng cố:

  1. Trong những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của nền “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản trong những năm 70 của thế kỷ XX, thì nguyên nhân nào là quan trọng nhất? Vì sao? Nguyên nhân đó có thể giúp ích gì cho các nước đang phát triển trong việc xây dựng nền kinh tế của mình? Từ những kinh nghiệm, của Nhật Bản có thể rút ra bài học kinh nghiệm gì cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước?
  2. Chứng minh xu thế hướng về châu Á ngày càng đậm nét trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản? Nhận xét về chính sách này?

III. TÂY ÂU VÀ KHỐI THỊ TRƯỜNG CHUNG CHÂU ÂU EEC

Tây Âu gồm nhóm các nước tư bản có trình độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật ở mức cao. Tên gọi Tây Âu chủ yếu nhằm phân biệt với Đông Âu là nhóm các nước xã hội chủ nghĩa. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Tây Âu bị tàn phá nặng nề, suy yếu về nhiều mặt và phụ thuộc vào Mỹ. Sau khi phục hồi và phát triển kinh tế, các nước Tây Âu đã trở thành trung tâm kinh tế, tài chính thế giới, cạnh tranh gay gắt với Mỹ. Nhiều nước tìm cách thoát khỏi sự ảnh hưởng của Mỹ và mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới. Từ 1957, các nước Tây Âu đã thành lập khối thị trường chung châu Âu EEC, phát triển trở thành Liên minh châu Âu EU, nhằm mục tiêu xây dựng một châu Âu không biên giới.

1, Các giai đoạn phát triển của Tây Âu từ năm 1945 đến năm 2000

a. Tây Âu từ 1945 – 1950

+ Kinh tế:

– Là chiến trường chính của chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Tây Âu bị tàn phá hết sức nặng nề, do vậy sau chiến tranh, các nước đều tiến hành khôi phục nền kinh tế.

– Qua việc nhân viên trợ kinh tế của Mỹ (Kế hoạch Mácsan), đến 1950 kinh tế các nước Tây Âu căn bản được phục hồi đạt mức trước chiến tranh

+ Đối ngoại: Liên minh và ngày càng phụ thuộc vào Mỹ trong cuộc lạnh” chống chủ nghĩa xã hội, tái chiếm các thuộc địa cũ, Pháp quay trở lại chiếm Đông Dương.

b. Tây Âu từ 1950 – 1973:

+ Kinh tế:

– Kinh tế phát triển nhanh: Đức trở thành cường quốc công nghiệp đứng thứ 3 thế giới, Anh đứng thứ 4, Pháp đứng thứ 5.

– Tới đầu thập niên 70, Tây Âu trở thành một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính thế giới, (cùng với Mỹ, Nhật Bản).

Nguyên nhân:

– Nguồn nhân công đông đảo có chất lượng cao.

– Áp dụng tốt những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại.

– Vai trò quản lý, điều tiết kinh tế có hiệu quả của nhà nước.

– Nhập nguyên liệu giá rẻ từ các nước thuộc thế giới thứ ba.

– Tận dụng tốt viện trợ của Mỹ, hợp tác có hiệu quả trong khuôn khổ Cộng đồng châu Âu (EC)…

– Nguyên nhân quan trọng nhất là áp dụng những thành tựu của cách mạng KHKT.

+ Đối ngoại:

– Sau khi đạt được những tiến bộ về kinh tế, các nước Tây Âu một mặt tiếp tục liên minh với Mỹ, mặt khác đã đa dạng hoá quan hệ đối ngoại.

– Một số nước khẳng định ý thức độc lập, ít lệ thuộc vào Mỹ (Pháp, Phần Lan, Thụy Điển…)

– Đây cũng là thời kỳ các nước Tây Âu phải từ bỏ hệ thống thuộc địa rộng lớn của mình, mở ra thời kỳ “phi thực dân hóa” trên phạm vi thế giới.

– Cải thiện quan hệ với các Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, các nước châu Á – ‘Thái Bình Dương…

c. Tây Âu từ 1973 – 1991:

+ Kinh tế:

– Tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng 1973, kinh tế các nước Tây Âu bị suy thoái, khủng hoảng, buộc phải tiến hành những cải cách cần thiết, sau cải cách kinh tế phát triển chậm chạp xen kẽ suy thoái nhưng vẫn là trung tâm kinh tế – tài chính thế giới.

– Bị kinh tế Mỹ, Nhật Bản, các nước công nghiệp mới (NICs) cạnh tranh quyết liệt.

– Quá trình nhất thể hóa châu Âu, xây dựng một thị trường chung thống nhất gặp nhiều trở ngại.

+ Đối ngoại:d. 

– Vấn đề căng thẳng nhất là quan hệ giữa hai miền nước Đức, chỉ tạm thời dịu đi khi hai miền ký Hiệp định về những cơ sở quan hệ giữ Đông Đức và Tây Đức 1972.

– Năm 1975, Định ước Henxinki được ký kết mở ra khả năng hợp tác an ninh ở Châu Âu.

– Cùng với sự chấm dứt của chiến tranh lạnh, sự khủng hoảng và sụp đổ của khối Xã hội chủ nghĩa, ngày 3/10/1990 nước Đức thống nhất.

d. Tây Âu từ 1991-2000:

+ Kinh tế:

Kinh tế phát triển trở lại, đến giữa thập niên 90, Tây Âu chiếm khoảng 1/3 tổng sản phẩm công nghiệp của thế giới.

+ Đối ngoại:

– Chính sách đối ngoại có sự điều chỉnh quan trọng dựa trên thực lực quốc gia và sự ảnh hưởng ngày càng lớn của Liên minh châu Âu, tìm cách vươn lên thành những cực quan trọng trong xu thế “đa cực” sau chiến tranh lạnh

– Một số nước Châu Âu trở thành đối trọng với Mỹ trong nhiều vấn đề quốc tế, mở rộng quan hệ với các nước đang phát triển, Đông Âu…

Tây Âu từ 1945 đến 2000
Tây Âu từ 1945 đến 2000


2. Quá trình hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu (EU) từ khi thành  lập đến năm 2000.

Liên minh châu Âu EU
Liên minh châu Âu EU

* Quá trình hình thành và phát triển:
– Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, sự tăng trưởng kinh tế của các nước tư bản Tây Âu đã dẫn đến quá trình liên kết kinh tế giữa các nước này.
– Các nước Tây Âu mong muốn thành lập một tổ chức liên kết khu vực về kinh tế, tài chính, chính trị, an ninh để hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài châu Âu, nhất là Mỹ.
– Thành lập: 25/3/1957, tại Rô Ma (Ý).
– Quá trình hình thành và phát triển của EEC là quá trình liên kết từng bước theo
Những quy mô kinh tế, chính trị và xã hội:
+ Năm 1957: Có 6 nước: Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp, Italia, Bỉ, Hà Lan,
Lucxămbua.
+ Năm 1973: Có 9 nước: Thêm Anh, Đan Mạch, Ailen.
+ Năm 1981: Có 10 nước: Thêm Hy Lạp.
+ Năm 1986: Có 12 nước: Thêm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
+ Năm 1993 Gồm 15 thành viên: Thêm Áo, Phần Lan, Thụy Điển.
+ Từ 1/1/1993, EEC được gọi là Liên minh châu Âu (EU). Phần đấu để tiến tới một châu Âu không biên giới.
* Mục đích và hoạt động:
– Đem lại hòa bình và phồn vinh cho các dân tộc trong cộng đồng, trong khuôn khổ của sự thống nhất không ngừng của các dân tộc.
– Gạt bỏ mọi trở ngại để trao đổi, thi hành một chính sách kinh tế thống nhất. Tạo khả năng phát triển nhanh chóng nền kinh tế, ứng dụng những thành tựu khoa học
– Kỹ thuật hiện đại vào sản xuất.
– Sau hơn 5 thập niên phát triển, với sức mạnh của thị trường dân số đông có trình độ khoa học – kỹ thuật cao, chiếm 1/4 GDP của thế giới, EU đã tạo ra một cộng đồng kinh tế và một thị trường chung hùng mạnh, đủ sức cạnh tranh về kinh tế, tài chính, thương mại với Mỹ và Nhật.
– EU tìm mọi cách tiến tới thống nhất với nhau về chính sách đối nội, đối ngoại, đặc biệt trong mục tiêu chống chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng châu Âu; sử dụng đồng tiền chung (Euro), ngân hàng chung.
=> EU là một tổ chức hợp tác kinh tế-chính trị – an ninh lớn nhất, chặt chẽ nhất hiện nay và đang xây dựng một “châu Âu không biên giới”
* Những khó khăn cần giải quyết trong hiện tại và tương lai:
– Nhiều vấn đề đã nảy sinh sau khi xóa bỏ kiểm soát biên giới giữa các nước: Buôn lậu, ma tuy, mafia, di cư và nhân cư nhập cư, mâu thuẫn giữa quyền lợi dân tộc với quyền lợi chung của khối EU.
– Mối quan hệ phức tạp, đan xen giữa lợi ích riêng của dân tộc và lợi ích chung của khối.
– Sự cạnh tranh gay gắt của Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và các nước công nghiệp mới (NICs).
– Quá trình nhất thể hóa châu Âu gặp nhiều trở ngại, sự kiện nước Anh rời khỏi  EU là một ví dụ.
– Chủ nghĩa khủng bố đe dọa.

Câu hỏi củng cố:

  1. Nêu khái quát các giai đoạn phát triển của các nước Tây Âu từ năm 1945 đến năm 2000?
  2. Quá trình phát triển của Liên minh Châu Âu (EU) từ khi thành lập đến năm 2000?

Bài học Mỹ – Tây Âu- Nhật Bản từ năm 1945 – 2000 cung cấp những kiến thức cơ bản giúp các em làm tốt hơn các câu hỏi trắc nghiệm trong chương trình THPT Quốc gia.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here