Home Lịch sử lớp 12 Cuộc vận động giải phòng dân tộc 1930 – 1945

Cuộc vận động giải phòng dân tộc 1930 – 1945

220
0

Cuộc vận động giải phòng dân tộc 1930 – 1945

Kiến thức cần nắm vững:

– Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản, vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự thành công của hội nghị.

– Nội dung của Cương lĩnh chính trị đầu tiên, tính đúng đắn và sáng tạo của nó.

– Nội dung của Luận cương chính trị tháng 10, những nét kế thừa Cương lĩnh của Luận cương, những điểm hạn chế và nguyên nhân.

– Nguyên nhân bùng nổ và những điểm mới, đóng góp của phong trào cách mạng 1930 – 1931.

– Nguyên nhân bùng nổ và những điểm mới, đóng góp của phong trào dân chủ công khai 1936 – 1939.

– Hội nghị Trung ương Đảng lần V, và VIII, tầm quan trọng của 2 hội nghị.

– Phong trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945

+ Hoàn cảnh

+ Quá trình xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang, căn cứ địa.

+ Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945

+ Tuyên ngôn độc lập và sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

– Ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám.

  1. Hội nghị thống nhất  ba tổ chức Cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam.Ý nghĩa của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nội dung của bản Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt

a. Hoàn cảnh lịch sử:

– Cuối năm 1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh trong đó giai cấp công nhân thật sự trở thành một lực lượng tiên phong.

– Năm 1929, ở nước ta lần lượt xuất hiện ba tổ chức cộng sản đã thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển, song cả ba tổ chức đều hoạt động riêng rẽ công kích lẫn nhau, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng, gây trở ngại lớn cho phong trào cách mạng. Yêu cầu cấp thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải thống nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng vô sản duy nhất.

– Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, được sự ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm về Hương Cảng (Trung Quốc) để triệu tập Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản họp từ 06/01 đến ngày 07/02/1930.

– Các tổ chức cộng sản trong nước nghe tin Nguyễn Ái Quốc triệu tập hội nghị

đã lập tức cử đại biểu đến dự, điều đó nói lên vai trò và uy tín tối cao của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

b. Nội dung Hội nghị:

– Tại Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc đã phê phán những quan điểm sai lầm của các tổ chức cộng sản riêng rẽ

– Thống nhất ba tổ chức cộng sản để thành lập một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và điều lệ tóm tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.

– Bầu Ban chấp hành Trung ương lâm thời.

– Bàn các bước để thống nhất trên thực tế các tổ chức cộng sản trong nước.

* Ý nghĩa của Hội nghị thành lập Đảng: Hội nghị có ý nghĩa và giá trị như một Đại hội “lành lập Đảng vì đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua đường lối chính trị cho cách mạng Việt Nam.

* Nguyên nhân thành công của Hội nghị:

– Hội nghị được tổ chức hợp ý, đúng thời điểm cần thiết, khi các tổ chức cộng sản đã ra đời và có yêu cầu cao về sự thống nhất.

– Giữa đại biểu các tổ chức cộng sản không có mâu thuẫn về ý thức hệ, đều có xu hướng vô sản, chung mục đích cách mạng, đều tuân theo điều lệ của Quốc tế Cộng sản.

– Đáp ứng đúng yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam lúc đó.

– Do sự quan tâm của Quốc tế Cộng sân và uy tín cao của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Cuộc vận động giải phóng dân tộc 1930 - 1945
Cuộc vận động giải phóng dân tộc 1930 – 1945

c. Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng

– Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp quyết liệt trong thời đại mới, là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX.

– Đảng ra đời là một bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, vì:

+ Đối với giai cấp công nhân: Chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.

+ Đối với dân tộc: Chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về mặt đường lối và giai cấp lãnh đạo, khẳng định quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới.

– Đảng ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt về sau của cách mạng.

 

d. Nội dung bản Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt

* Đường lối của cách mạng Việt Nam: Cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Trước hết làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng (cách mạng ruộng đất), sau đó làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai đoạn cách mạng kế tiếp nhau không tách rời nhau.

* Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam: Đánh đổ ách thống trị của đế quốc Pháp, vua quan phong kiến và tư sản phản cách mạng (nhiệm vụ dân tộc và dân chủ).

* Mục tiêu của cách mạng: Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng nên chính phủ và quân đội công nông, tịch thu sản nghiệp của bọn đế quốc, địa chủ, tư sản phản cách mạng đem chia cho dân cày.

*  Lực lượng cách mạng: Công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, còn với phú

nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản thì lợi dụng hoặc trung lập, đồng thời phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới.

* Lãnh đạo cách mạng: Là Đảng Cộng sản Việt Nam đội tiên phong của giai cấp vô sản.

* Quan hệ quốc tế: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới.

* Nhận xét: Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo tuy còn vắn tắt nhưng là một cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm tinh thần dân tộc và tinh thần nhân văn. Độc lập dân tộc và tự do là tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh.

e. Tính đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (1/1930) gồm các văn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ tóm tắt và Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng.

Tính cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh đầu tiên đó được thể hiện qua những nội dung sau:

+ Cương lĩnh vạch rõ tính chất của cách mạng Việt Nam là phải trải qua hai giai đoạn: Cách mạng tư sản dân quyền (về sau gọi là cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân) và cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, ngay từ đầu, Đảng ta đã thấu suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

+ Cương lĩnh đề ra nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta: đánh đổ đế quốc Pháp, vua quan phong kiến và tư sản phản cách mạng.

Mục tiêu:

– Làm cho nước Việt Nam độc lập.

– Dựng lên chính phủ công nông binh.

– Tổ chức ra quân đội công nông.

– Tịch thu sản nghiệp lớn của bọn đế quốc và ruộng đất của bọn đế quốc, bọn phản cách mạng đem chia cho dân cày nghèo, chuẩn bị cách mạng thổ địa.

  1. Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng 10/1930
Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng 10/1930
Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng 10/1930

a. Hoàn cảnh triệu tập Hội nghị

– Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 tác động mạnh mẽ đến Việt Nam, đời

sống các tầng lớp nhân dân lâm vào cùng cực, mâu thuẫn dân tộc lên cao gay gắt.

Thêm vào đó, thực dân Pháp tiến hành cuộc khủng bố trắng sau khởi nghĩa Yên Bái càng làm mâu thuẫn lên cao.

– Trong hoàn cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã phát động và lãnh

đạo được một cao trào cách mạng rộng lớn, với đỉnh cao Xô viết Nghệ – Tĩnh.

– Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào cách mạng đang dâng cao; Dưới sự chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Ban chấp hành Trung ương Đảng dã

triệu tập Hội nghị lần thứ nhất vào 10/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc) do đồng chí Trần Phú chủ trì.

b. Nội dung Hội nghị

– Đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

– Thảo luận và thông qua luận cương chính trị 10/1930 do Đồng chí Trần Phú soạn thảo nhằm thay thế cho Cương lĩnh chính trị đầu tiên.

– Bầu BCH TW chính thức do Trần Phú làm Tổng Bí thư.

* Đường lối của cách mạng: Lúc đầu làm cách mạng tư sản dân quyền, sau khi thắng lợi tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

* Nhiiệm vụ của cách mạng: Đánh đổ phong kiến và đế quốc. Hai nhiệm vụ đó khăng khít nhau.

* Mục tiêu của cách mạng: Làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.

* Lực lượng tham gia: Công nhân và nông dân là gốc của cách mạng.

* Lãnh đạo cách mạng: Là Đảng Cộng sản Đông Dương.

* Quan hệ quốc tế. Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới.

* Nhận xét: Luận cương đã kế thừa Cương lĩnh ở những điểm chủ yếu, xác định được nhiều vấn đề thuộc về chiến lược cách mạng nhưng cũng bộc lộ một số nhược điểm và hạn chế:

+ Chưa nêu được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương, không đưa ngọn cờ dân tộc lên hàng đầu, nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất.

+ Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của tiểu tư sản, khả năng chống

đế quốc và phong kiến của tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc chống đế quốc và tay sai.

Nội dung của hội nghị thành lập Đảng
Nội dung của hội nghị thành lập Đảng

b. So sánh Cương lĩnh chính trị 02/1930 và Luận cương chính trị 10/1930

* Giống nhau:

– Đểu xác định nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn trước mắt là tư sản dân quyền, sau đó bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản.

– Đều xác định nhiệm vụ của cách mạng là chống đế quốc, chống phong kiến, hai nhiệm vụ này có mối quan hệ khăng khít với nhau.

– Đều xác định lãnh đạo là giai cấp công nhân, thông qua chính đảng tiên phong,

cách mạng Việt Nam là một bộ phận, có quan hệ mật thiết, gắn bó với cách mạng thế giới.

* Khác nhau

– Về nội dung cách mạng tư sản dân quyền :

+ Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định đường lối chiến lược của cách mạng là

“làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.

+ Luận cương chính trị nêu: Cách mạng Đông Dương lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.

Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, tư sản dân quyền cách mạng không bao gồm nhiệm vụ ruộng đất mà chỉ thực hiện nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập. Tức là làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, còn trong Luận cương chính trị, tư sản dân quyền sẽ bao gồm cả nhiệm vụ giải phóng dân tộc và nhiệm vụ cách mạng ruộng đất.

– Về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến.

+ Cương lĩnh chính trị đầu tiên: Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp, bọn phong kiến và phản cách mạng làm cho nước Việt Nam độc lập, tự do; lập Chính phủ công nông binh,tổ chức quân đội công nông, tịch thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc; tịch thu ruộng đất của đế quốc và phản cách mạng chia cho dân cày nghèo, tiến hành cách mạng ruộng đất cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định nhiệm vụ cách mạng bao gồm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và phong kiến nhưng đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc lên hàng đầu.

+ Luận cương tháng 10/1930: Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến có mối quan hệ khăng khít, “vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền”. Luận cương chính trị không đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu mà có phần nhấn mạnh nhiệm vụ chống phong kiến giành ruộng đất cho dân cày lên hàng đầu.

– Về tập hợp lực lượng.

+ Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định lực lượng cách mạng là công nhân,

nông dân, tư sản tiểu trí thức. Đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản

phải lợi dụng hoặc trung lập. Cương lĩnh chính trị đầu tiên chủ trương tập hợp lực lượng toàn thể dân tộc, thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Nguyễn

Ái Quốc.

+ Luận cương chính trị 10/1930: Động lực cách mạng là công nhân, nông dân.

Luận cương chính trị không thấy được khả năng cách mạng của các giai cấp khác như tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc, phong kiến của tư sản dân tộc, khả năng phân hóa, lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ đi theo cách mạng.

  1. Phong trào cách mạng 1930 -1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ – Tĩnh

a. Nguyên nhân bùng nổ

– Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 trong thế giới tư bản ảnh hưởng mạnh mẽ làm cho nền kinh tế nước ta tiêu điều, xơ xác, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam nặng nề hơn nhiều so với các thuộc địa của Pháp cũng như các nước trong khu vực. Đời sống nhân dân lao động hết sức cơ cực nhất là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

– Trong khi đó, phong trào cách mạng thế giới có nhiều chuyển biến, Liên Xô đang xây dựng chủ nghĩa xã hội và đạt nhiều thành tựu to lớn, công xã Quảng Châu ở Trung Quốc đang thắng lợi… có ảnh hưởng tích cực đến phong trào cách mạng Việt Nam.

– Do chính sách khủng bố trắng của thực dân Pháp sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái làm cho mâu thuẫn dân tộc lên cao gay gắt.

– Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 2/1930 với đường lối cách mạng đúng đắn đã kịp thời lãnh đạo phong trào.

– Trong những nguyên nhân đó thì nguyên nhân Đảng ra đời và lãnh đạo là nguyên nhân cơ bản và quyết định nhất.

b. Chủ trương của Đảng

– Nhận định kẻ thù: Đế quốc Pháp và địa chủ phong kiến.

– Nhiệm vụ: Chống đế quốc giành độc lập dân tộc, chống phong kiến giành ruộng đất cho dân cày.

– Hình thức tập hợp lực lượng: Bước đầu thực hiện liên minh công nông.

– Hình thức đấu tranh: sử dụng hình thức đấu tranh phong phú quyết liệt, trọng tâm là đấu tranh chính trị của quần chúng như mít tinh, biểu tình, bãi công, biểu tình có vũ trang, hoạt động bí mật.

c. Diễn biến của phong trào cách mạng 1930 – 1931

Chia làm hai thời kỳ

* Từ tháng 2 đến tháng 4/1930: Phong trào diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn quốc.

– Ngày 3/2/1930, công nhân đồn điền cao su Phú Riềng (Nam Bộ) bãi công đòi tăng lương giảm giờ làm.

– Tháng 4/1930, công nhân nhà máy sợi Nam Định, nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thủy, nhà máy xi măng Hải Phòng bãi công.

– Trong nửa đầu năm 30 cùng với phong trào của công nhân, phong trào của nông dân cũng diễn ra ở nhiều địa phương thuộc các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Nghệ An, Hà Tĩnh. Điểm mới của phong trào trong thời kỳ này là xuất hiện nhiều truyền đơn cờ đỏ búa liềm của Đảng xuất hiện ở nhiều địa phương.

– Đặc biệt trong ngày quốc tế lao động 1/5/1930 lần đầu tiên công nông và quần

chúng khắp từ Bắc vào Nam đã biểu dương lực lượng của mình thông qua các cuộc mít tinh, biểu tình. Sau ngày 1/5 phong trào tiếp tục dâng cao.

* Từ tháng 5 đến tháng 1 0/1930: Phong trào tiếp tục phát triển trên quy mô cả nước nhưng đỉnh cao là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

– Ngày 1/5/1930, công nhân nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thủy (Nghệ An) cùng hàng vạn nông dân các vùng phụ cận thị xã Vinh biểu tình giương cao ngọn cờ đỏ búa liềm đòi tăng lương giảm giờ làm.

– Ngày 1/8/1930, Phong trào phát triển lên một bước: Công nhân khu công nghiệp Vinh – Bến Thủy tổng bãi công, báo hiệu thời kỳ đấu tranh quyết liệt đã đến.

– Tính chất quyết liệt của phong trào cách mạng là cuộc biểu tình ngày 12/9/1930 của 8.000 nông dân ở Hưng Nguyên (Nghệ An). Thực dân Pháp đàn áp làm 217 người chết, 125 người bị thương làm cho công nhân vô cùng căm phẫn.

– Trong suốt tháng 9 và tháng 10 nông dân ở các huyện Thanh Chương, Diễn Châu (Nghệ An), Hương Sơn (Hà Tĩnh) đã khởi nghĩa vũ trang, công nhân khu công nghiệp Vinh – Bến Thủy tiếp tục bãi công lần thứ hai làm cho phong trào trở nên hết sức quyết liệt.

– Trước khí thế đấu tranh của quần chúng chính quyền địch ở nhiều địa phương bị tan rã. Ở đó các Ban Chấp hành nông hội đã đứng ra quản lý mọi mặt đời sống chính trị, xã hội theo kiểu các xô viết. Lần đầu tiên nhân dân ta thực sự nắm chính quyền ở địa phương.

d. Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm

* Ý nghĩa lịch sử:

– Phong trào cách mạng 1930 – 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ – Tĩnh là một sự kiện lịch sử trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, là phong trào đầu tiên do Đảng trực tiếp tổ chức và lãnh đạo, thể hiện sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên, kết hợp nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ giai cấp.

– Phong trào đã giáng một đòn quyết liệt đầu tiên vào bè lũ đế quốc và phong kiến tay sai, không ảo tưởng, khoan nhượng vào kẻ thù dân tộc.

– Qua thực tiễn phong trào cho thấy dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân, nông dân đoàn kết với các tầng lớp nhân dân khác có khả năng lật đổ nền thống trị của đế quốc và phong kiến tay sai, giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.

– Dù thất bại nhưng phong trào là cuộc tập dượt đầu tiên của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng chuẩn bị cho sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám sau này.

Phong trào đã khẳng định:

+ Đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

+ Vai trò quan trọng, nòng cốt của liên minh công nông.

+ Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành phân bộ độc lập, trực thuộc Quốc tế Cộng sản.

* Bài học kinh nghiệm: Phong trào để lại nhiều bài học kinh nghiệm:

– Bài học về vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng.

– Bài học về xây dựng khối liên minh công nông.

– Bài học về sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để giành chính quyền.

– Bài học về xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân.

Chính vì những lẽ trên, phong trào cách mạng 1930-1931, mà dinh cao là Xô Viết – Nghệ Tĩnh là cuộc diễn tập đầu tiên chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám 1945.

e. Xô viết Nghệ –  Tĩnh là hình thức sơ khai của chính quyền công nông ở nước ta Chính quyền của dân do dân vì dân

Tại nhiều địa phương ở Nghệ An và Hà Tĩnh, trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, chính quyền địch tan rã, tê liệt. Các nông hội đã đứng ra quản lý mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Làm vai trò như một nhà nước kiểu mới theo mô hình Xô viết của cách mạng tháng Mười Nga 1917.

Ở Việt Nam, đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một chính quyền hoàn toàn của dân, do dân và vì dân tồn tại. Chính quyền đó đã đem lại nhiều lợi ích căn bản cho nhân dân.

+ Về chính trị: Chính quyền Xô Viết Nghệ Tĩnh ban bố và thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Quần chúng được tự do hội họp và tham gia hoạt động đoàn thể như Nông Hội, Công Hội, Đội Tự vệ…

+ Về kinh tế: Chính quyền chia lại ruộng đất công cho nông dân, giảm tô, xóa nợ, bãi bỏ các loại thuế chợ, thuế đò, thuế thân, tu sửa cầu cống, đê điều, tổ chức giúp nhau trong sản xuất.

+ Về văn hóa – xã hội: Khuyến khích nhân dân học chữ Quốc ngữ, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, giữ vững trật tự an ninh, tổ chức đời sống mới..

+ Về quân sự: Các đội tự vệ được thành lập để bảo vệ quần chúng trong đấu

tranh, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, trấn áp bọn phản cách mạng.

* Ý nghĩa sự ra đời của Xô viết Nghệ – Tĩnh

– Tuy chỉ tồn tại được 4 – 5 tháng nhưng Xô viết Nghệ – Tĩnh đã tỏ ra bản chất cách mạng và tính ưu việt của nó:

+ Là một sáng tạo của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

+ Đã khẳng định sự đúng đắn của đường lối cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra.

+ Tỏ rõ bản chất cách mạng và năng lực lãnh đạo của giai cấp công nhân.

+ Chứng tỏ sức mạnh to lớn của khối liên minh công nông có khả năng lật đổ nền thống trị của đế quốc và phong kiến, xây dựng một cuộc sống mới.

+  Xô viết Nghệ – Tĩnh thất bại nhưng đã chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng tháng tám sau này.

Xô viết Nghệ – Tĩnh là hình thức nhà nước sơ khai: Vì Xô viết Nghệ – Tĩnh chỉ mới thiết lập được chính quyền ở một số địa phương nhỏ lẻ, chưa lập được bộ máy chính quyền hoàn chỉnh, chưa giải quyết triệt để vấn đề ruộng đất cho nông dân, thời gian tồn tại chưa lâu.

– Ngày 11/4/1931, Quốc tế Cộng sản đã công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một bộ phận độc lập thuộc Quốc tế Cộng sản.

Phong trào cách mạng 31 - 31
Phong trào cách mạng 31 – 31
  1. Cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939

a. Hoàn cảnh lịch sử

* Tình hình thế giới.

– Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 tác động mạnh mẽ làm phân hóa các nước đế quốc Chủ nghĩa phát xít xuất hiện và lên cầm quyền ở Đức, Ý, Nhật, chủ trương phát động chiến tranh để phân chia lại thế giới. Chủ nghĩa phát xít trở thành mối hiểm họa lớn đe dọa nền hòa bình an ninh thê giơi.

– Đại Hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản 7/1 935 chỉ rõ:

+ Kẻ thù nguy hiểm trước mắt của nhân dân thế giới lúc này không phải là chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là chủ nghĩa phát xít.

+ Nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân thế giới cũng như giai cấp công nhân từng nước là chống chủ nghĩa phát xít.

+ Mục tiêu đấu tranh là tự do, dân chủ, bảo vệ hoà bình, bảo vệ Liên Xô – thành trì của hòa bình, an ninh thế giới.

+ Chủ trương thành lập Mặt trận Nhân dân ở các nước để tập hợp đông đảo mọi lực lượng dân chủ chống chủ nghĩa phát xít.

– Ở Pháp, tháng 6/1936, Mặt trận Nhân dân Pháp thắng cử và lên cầm quyền.

Chính phủ liên hiệp của Mặt trận Nhân dân Pháp và các đảng phái tiến bộ đã ban hành nhiều chính sách tiến bộ trong nước và thi hành một số chính sách tự do, dân chủ ở thuộc địa…

* Tình hình trong nước:

– Những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 và chính sách khủng bố kéo dài của thực dân Pháp thời kỳ hậu Xô viết Nghệ Tĩnh đã làm cho đời sống nhân dân Đông Dương hết sức ngột ngạt, yêu cầu cải thiện đời sống và các quyền tự do dân chủ được đặt ra một cách bức thiết.

– Bọn phản động thuộc địa ngóc đầu dậy hoạt động, chúng chủ trương xóa bỏ mọi quyền tự do dân chủ, không thi hành các chính sách của Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp. Chủ trương tiếp tục tiến hành cuộc khai thác thuộc địa nhằm bóc lột nhân dân Đông Dương.

– Đời sống của các tầng lớp nhân dân, kể cả các giai cấp, tầng lớp trên đều khó khăn, khổ cực, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp tiếp tục lên cao.

– Sau thời kỳ 1930- 1931, các tổ chức Đảng từ trung ương đến địa phương và lực lượng cách mạng đã được phục hồi, Đảng đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ nhất 3/1 935.

b. Chủ trương của Đảng; Căn cứ những chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước, vận dụng đường lối của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, Hội nghị Trung ương Đảng 7/1936 đã đề ra chủ trương mới

– Xác định kẻ thù: Kẻ thù cụ thể chủ yếu trước mắt của nhân dân Đông Dương chưa phải là bọn thực dân Pháp nói chung mà là bọn thực dân phản động thuộc địa Pháp đang tìm cách bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ.

– Xác định nhiệm vụ: Nhiệm vụ chiến lược của nhân dân Đông Dương là chống đế quốc và chống phong kiến, nhiệm vụ trước mắt của nhân dân Đông Dương là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh đế quốc, đòi những quyền tự do dân chủ, cơm áo và hòa bình. Đấu tranh bảo vệ Liên Xô, bảo vệ thành trì của hòa bình thế giới.

– Hình thức tập hợp lực lượng: Chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương để tập hợp đông đảo mọi lực lượng yêu nước dân chủ tiến bộ.

– Hình thức và phương pháp đấu tranh: Vận dụng nhiều hình thức đấu tranh phong phú gồm công khai và bí mật, hợp pháp và nửa hợp pháp, đấu tranh chính trị, nghị trường, báo chí…

– Lực lượng tham gia: Gồm nhiều tầng lớp giai cấp như công nhân, nông dân, tri thức, dân nghèo thành thị…

– Xác định vai trò lãnh đạo phong trào của Đảng Cộng sản Đông Dương,

c. Các phong trào tiêu biểu trong phong trào dân chủ 1936 – 1939

– Phong trào đấu tranh đòi tự do, dân sinh, dân chủ (phong trào Đông Dương Đại hội).

+ Chính phủ của Mặt trận Nhân dân pháp chủ trương thi hành một số chính sách tiến bộ đối với các thuộc địa, đối với Đông Dương, giữa năm 1936, chính phủ Mặt trận Nhân dân Phấp cử một phái đoàn sang điều tra tình hình, sửa đổi, nới rộng một số quyển tự do dân chủ.

+ Lúc này, ở Đông Dương có nhiều đảng phái chính trị hoạt động theo nhiều xu hướng khác nhau, tuy nhiên chi có Đảng Cộng sản Đông Dương là đảng sự thật cách mạng và có đường lối, tổ chức chặt chẽ nhất. Nhân điều kiện đó, Đảng phát động một phong trào đấu tranh công khai hợp pháp, vận động thành lập ủy ban trù bị nhằm thu thập nguyện vọng của nhân dân tiến tới Đại hội của nhân dân Đông Dương 8/1936.

+ Phong trào diễn ra sôi nổi, các ủy ban hành động nối tiếp nhau ra đời ở nhiều địa phương trong cả nước. Quần chúng sôi nổi tổ chức các cuộc mít tinh hội họp, diễn thuyết để thu thập dân nguyện đòi chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp thả tù chính trị, thi hành luật lao động, cải thiện đời sống nhân dân.

– Phong trào đón rước Gôđa và Toàn quyền Đông Dương.

Đâu năm 1937, nhân dịp đón phái viên chính phủ Pháp là Gôđa và Toàn quyền Đông Dương Brivie, dưới sự lãnh đạo của Đảng quần chúng nhân dân nhất là công nhân và nông dân đã tổ chức biểu dương lực lượng thông qua các cuộc mít tinh biểu tình đưa dân nguyện đòi cải thiện cuộc sống và đòi các quyền tự do dân chủ

– Cuộc mít tinh ngày 1/5/1938.

Nhân ngày quốc tế lao động 1/5/1938 tại quảng trường nhà Đấu Xảo Hà Nội đã diễn ra một cuộc mít tinh khổng lồ với hai vạn rưỡi người tham gia hô vang các khẩu hiệu đòi tự do lập hội ái hữu, nghiệp đoàn, thi hành luật lao động, đòi giảm thuế, chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, ủng hộ hòa bình.

d. Ý nghĩa và tác dụng của phong trào 1936 – 1939

– Phong trào dân chủ 1936 – 1939 là sự tiếp nối không ngừng nghỉ trào dân tộc dân chủ kể từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo.

– Cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939 là một phong trào dân tộc dân chủ rộng lớn, trong đó tính dân chủ công khai được thể hiện rõ nét. Qua phong trào, Đảng ta đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền giáo dục sâu rộng tư tưởng Mác – Lênin, đường lối chính sách của Đảng, tập hợp đông đảo quần chúng trong mặt trận dân tộc thống nhất xây dựng được đội quân chính trị đông đảo.

– Qua phong trào uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng và ăn sâu trong quần chúng, trình độ chính trị và khả năng công tác của cán bộ được nâng lên, tổ chức Đảng được củng cố và phát triển, từ chính Đảng mạnh nhất, Đảng Cộng sản Đông Dương trở thành Đảng duy nhất nắm ngọn cờ giải phóng dân tộc, đứng ra lãnh đạo cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 – 1945.

– Phong trào đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm như bài học về sử dụng các hình thức, phương pháp và khẩu hiệu đấu tranh, vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xây dựng Mặt trận Nhân dân thống nhất.

Với những ý nghĩa đó, phong trào dân chủ 1936- 1939 được xem là cuộc diễn tập lần thứ hai của nhân dân Việt Nam chuẩn bị cho sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

So sánh chủ trương sách lược cách mạng của Đảng thời kỳ 1930 – 1931 so với thời kỳ 1936 – 1939

Nội dung

1930 – 2931

1936 – 1939

Kẻ thù

Đế quốc phong kiến Bọn phản động thuộc địa Pháp và tay sai của chúng
Nhiệm vụ Chống đế quốc giành độc lập dân tộc, chống phong kiến giành ruộng đất cho dân cày. Bọn phản động thuộc địa Pháp và tay sai của chúng.
Hình thức tập hợp lực lượng (Mặt trận) Bước đầu thực hiện liên minh công nông (ở Nghệ An và Hà Tĩnh ) Chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, bọn phản động thuộc địa, đòi

những quyền tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình.

Hình thức và phương pháp đấu tranh Đấu tranh chính trị, từ bãi công chuyển sang biểu tình quần chúng hoặc biểu tình có vũ

trang, hoạt động bí mật.

Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương sau đổi thành Mặt trận dân chủ Đông Dương.
Lực lượng đấu tranh Lực lượng chủ yếu là công nông. Lực lượng đấu tranh đông đảo, không phân biệt thành phần giai cấp.
Địa bàn chủ yếu Chủ yếu ở nông thôn và các trung tâm công nghiệp.

Chủ yếu ở các thành thị.

Như vậy so với thời kỳ 1930 – 1931 chủ trương, sách lược và hình thức đấu tranh trong thời kỳ này đều có nét khác. Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do hoàn cảnh lịch sử thay đổi so với trước. Đặc biệt, Mặt trận Nhân dân Pháp đã ban hành các chính sách về tự do dân chủ và ân xá tù chính trị cho các nước thuộc địa. Lợi dụng cơ hội này, Đảng ta chủ trương đấu tranh đòi các quyền dân sinh dân chủ. Điều đó chứng tỏ sự trưởng thành của Đảng trong công cuộc lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939
Cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939
  1. Phong trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945

a. Tình hình kinh tế, chính trị – xã hội Việt Nam trong giai đoạn 1939 – 1945

* Tình hình chính trị

+ Thế giới

– Ngày 01/9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, ngày 03/9/1939, Pháp tuyên chiến với Đức.

– Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng Đức.

– Tháng 6/1941, Đức tấn công Liên Xô. Năm 1945, ở châu Âu, phát xít Đức bị thất bại nặng nề; ở châu Á – Thái Binh Dương, Nhật bị thua to ở nhiều nơi.

+ Việt Nam.

– Ở Đông Dương, Đô đốc Đơcu làm Toàn quyền, thực hiện một loạt chính sách vơ vét sức người, sức của của Việt Nam để dốc vào cuộc chiến tranh.

– Cuối tháng 9/1940, Nhật vượt biên giới Việt – Trung vào miền Bắc Việt Nam, Pháp đầu hàng dâng Đông Dương cho Nhật.

– Nhật giữ nguyên bộ máy thống trị của Pháp để vơ vét kinh tế phục vụ cho chiến tranh, đàn áp cách mạng. Việt Nam đặt dưới ách thống trị của Nhật – Pháp.

– Từ tháng 9/1940; Pháp – Nhật câu kết với nhau để áp bức bóc lột nhân dân Đông Dương nhưng vì mâu thuẫn quyền lợi, cho nên chúng đều ngấm ngầm chuẩn bị đối phó nhau.

– Tháng 12/1941; Pháp cam kết hợp tác với Nhật về mọi phương diện.

– Ở Việt Nam, bên cạnh đảng phái thân Pháp còn có đảng phái thân Nhật như: Đại Việt, Phục Quốc… ra sức tuyên truyền lừa bịp về văn minh, sức mạnh Nhật Bản, thuyết Đại Đông Á, dọn đường cho Nhật hất cẳng Pháp.

– Ở Đông Dương, ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp. Lợi dụng cơ hội đó, các

đảng phái chính trị ở Việt Nam tăng cường hoạt động. Quần chúng nhân dân sục sôi khí thế, sẵn sàng vùng lên khởi nghĩa.

* Tình hình kinh tế – xã hội

* Kinh tế

+ Chính sách của Pháp

– Đầu tháng 9/1939, Toàn quyền Catdru ra lệnh tổng động viên nhằm “cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân sự, nhân lực, các sản phẩm và nguyên liệu”.

– Pháp thi hành chính sách “Kinh tế chỉ huy”: tăng mức thuế cũ, đặt thêm thuế mới, sa thải bớt công nhân, viên chức, giảm tiền lương, tăng giờ làm…kiểm soát gắt gao sản xuất, phân phối, ấn định giá cả.

+ Chính sách của Nhật.

– Pháp buộc phải để cho Nhật sử dụng phương tiện giao thông, kiểm soát đường sắt, tàu biển.

– Nhật bắt Pháp trong 4 năm 6 tháng nộp khoản tiền 723.786.000 đồng.

– Cướp ruộng đất của nông dân, bắt nông dân nhổ lúa, ngô để trồng đay, thầu dầu phục vụ cho nhu cầu chiến tranh.

– Buộc Pháp xuất cảng các nguyên liệu chiến tranh sang Nhật với giá rẻ như: Than sắt, cao su, xi măng…

– Công ty của Nhật đầu tư vào những ngành phục vụ cho quân sự như măng-gan sắt, phốt phát, crôm.

* Xã hội.

– Chính sách bóc lột của Pháp – Nhật đẩy nhân dân ta tới chỗ cùng cực: Cuối 1944 đầu năm 1945 có tới 2 triệu đồng bào ta chết đói.

– Nông dân: Chịu điêu đứng nhất, đói rét. Trong tổng số 2 triệu người chết đói cuối năm 1 944 và đầu năm 1945 đa số là nông dân.

– Công nhân: Bị thất nghiệp, bị tăng giờ làm, bớt tiền lương, bị cúp phạt, đánh đập…

– Các tầng lớp tiểu tư sản: Đời sống bấp bênh vì giá sinh hoạt cao, thất nghiệp, thua lỗ, sập hiệu… luôn luôn chờ đón họ.

– Giai cấp tư sản và địa chủ: (trừ một số có quyền lợi gắn chặt với Pháp, Nhật) cũng bị sa sút hoặc phá sản.

– Các giai cấp, tầng lớp ở nước ta, trừ tay sai đế quốc, đại địa chủ và tư sản mại bản đều bị ảnh hưởng bởi chính sách bóc lột của Pháp – Nhật.

* Điểm giống và khác nhau trong mục đích của chúng

– Giống: Thủ đoạn của chúng nhằm che đậy hành vi áp bức bóc lột nhân dân Việt Nam, lừa bịp nhân dân ta lầm tưởng chúng là “bạn” chứ không phải là “kẻ thù”.

– Khác: Thủ đoạn chính trị của Pháp nhằm củng cố ách thống trị của Pháp ở Đông Dương còn trong khi đó thủ đoạn của Nhật là làm chỗ dựa cho việc Nhật cai trị Đông Dương vì Nhật mới xâm lược và nhảy vào Đông Dương.

b. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (11/1939)

* Hoàn cảnh lịch sử

+ Thế giới

– Ngày 01/9/1939, Đức tấn công Ba Lan mở đầu cho cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.

– Ngày 3/9/1939, Anh’, Pháp tuyên chiến với Đức, Pháp chính thức lâm chiến. Ngay sau khi chiến tranh bùng nổ, Mặt trận Nhân dân Pháp tan vỡ, Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ngoài vòng pháp luật.

+ Việt Nam.

– Ở Đông Dương, chính quyền thực dân Pháp ra lệnh cấm tuyên truyền cộng sản, giải tán các tổ chức chính trị và đóng cửa các tờ báo tiến bộ, tiến hành khám xét và bắt giam hàng nghìn đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng thời, chúng còn vơ vét, bóc lột nhân dân Đông Dương và ra lệnh tổng động viên nhằm bắt thanh niên Việt Nam đưa sang Pháp tham gia chiến tranh.

– Đảng ta đã trưởng thành, khi thực dân Pháp điên cuồng khủng bố, Đảng ta đã kịp thời chỉ đạo cho các lực lượng cách mạng kịp thời rút vào hoạt động bí mật (1938), chuyển trọng tâm công tác về nông thôn.

Trước những chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệu tập Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ VI (11/1939) để chuyển hướng chỉ đạo chiến lược.

– Những chính sách đó đã làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp lên cao và đòi hỏi Đảng ta phải thay đổi sách lược đấu tranh cho phù hợp.

* Nội dung Hội nghị.

Từ ngày 6 đến ngày 8/11/1939, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Đông Dương họp ở Bà Điểm (Hóc Môn) do Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì.

– Nhận định kẻ thù: Kẻ thù chủ yếu trước mắt là bọn đế quốc Pháp và tay sai

– Xác định nhiệm vụ: Nhiệm vụ, mục tiêu đấu tranh trước mắt là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương.

– Khẩu hiệu đấu tranh: Tạm gác khẩu hiệu “Cách mạng ruộng đất” thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, địa chủ phản bội chia do dân cày. Thành lập Chính phủ dân chủ cộng hòa.

– Mặt trận: Chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (Mặt trận phản đế Đông Dương) nhằm tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp giai cấp, các dân tộc Đông Dương chĩa mũi nhọn của cách mạng vào kẻ thù chủ yếu trước mắt là chủ nghĩa đế quốc phát xít Pháp.

– Hình thức và phương pháp đấu tranh: Chuyên từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang đánh đổ đế quốc và tay sai, từ hoạt động hợp pháp nửa hợp pháp, sang đấu tranh bí mật. Dùng bạo lực cách mạng tức là đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa vũ trang.

* Ý nghĩa lịch sử của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương 11/1939

– Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (11/1939) đã đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng. Đảng ta đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đoàn kết được rộng rãi mọi tầng lớp giai cấp, dân tộc Đông Dương trong một mặt trận dân tộc thống nhất để đấu tranh chống kẻ thù chung.

– Sự chuyển hướng này là đúng đắn, cần thiết, kịp thời, chứng tỏ sự trưởng thành và lớn mạnh của Đảng ta trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng.

– Sự chuyển hướng này đã mở ra một thời kỳ đấu tranh mới, thời kỳ trực tiếp mở đường tiến tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám sau này.

  1. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5/ 1941)

a. Hoàn cảnh lịch sử.

* Thế giới:

– Sau khi chiếm phần lớn các nước châu Âu, phát xít Đức chuẩn bị tấn công Liên Xô, cuộc chiến tranh thế giới ngày càng quyết liệt.

– Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc và vượt biên giới Việt – Trung tiến quân vào miền Bắc Việt Nam. Chuẩn bị thực hiện kế hoạch chiến tranh Thái Bình Dương.

* Trong nước:

+ Nhân dân Đông Dương phải chịu hai tầng áp bức bóc lột của đế quốc Pháp và phát xít Nhật, mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với đế quốc Pháp và phát xít Nhật càng càng phát triển gay gắt, căng thẳng.

+ Nhân dân Đông Dương ngày càng cách mạng hóa, nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân đã nổ ra, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9/1940), khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940) và cuộc binh biến Đô Lương (01/1941).

+ Tháng 11/1940, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII họp tại Đình Bảng (Từ Sơn – Bắc Ninh) đã xác định kẻ thù của nhân dân Đông Dương lúc này là Nhật và Pháp, quyết định duy trì đội quân du kích Bắc Sơn tiến tới thành lập căn cứ du kích, đình chỉ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.

Trước tình hình thế giới và trong nước ngày càng khẩn trương, cấp bách, đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc đã về nước. Sau một thời gian chuẩn bị, Người triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, họp từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941 tại Pác Bó – Cao Bằng.

b. Nội dung của Hội nghị

Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, đánh giá những mâu thuẫn chủ yếu trong lòng xã hội Đông Dương, hội nghị nhận định hiện nay mâu thuẫn giữa các dân tộc ta với đế quốc Pháp và phát xít Nhật là mâu thuẫn chủ yếu nhất, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Vì vậy, lúc này nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất cần phải giải quyết. Từ đó, chủ trương:

– Xác định kẻ thù: Kẻ thù của nhân dân Đông Dương lúc này là đế quốc phát xít

Pháp – Nhật.

– Nhiệm vụ: Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là giải phóng dân tộc (nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được).

– Khẩu hiệu đấu tranh: Tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất nêu khẩu hiệu giảm tô, giảm thuế, chia lại ruộng đất công. Thành lập chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hình thức tập hợp lực lượng: Để phát huy sức mạnh dân tộc ở mỗi nước Đông Dương, cần phải đưa vấn đề dân tộc giải phóng về phạm vi mỗi nước. Vì vậy Hội nghị chủ trương ở mỗi nước cần thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất riêng. Ở Việt Nam thành lập Việt Nam Độc lập Đồng Minh (gọi tắt là Việt Minh), bao gồm các tổ chức quần chúng lấy tên là Hội cứu quốc. Ở Lào thành lập Ai Lao Độc lập Đồng Minh, ở Campuchia thành lập Cao Miên Độc lập Đồng Minh. Các nước có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ nhau.

– Hình thức đấu tranh: Đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang và coi chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân ta. Chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Hội nghị còn vạch rõ: Khởi nghĩa vũ trang muốn thắng lợi thì phải được chuẩn bị chu đáo và nổ ra đúng thời cơ, phải đi từ khởi nghĩa từng phần ở nông thôn tiến lên tổng khởi nghĩa trong cả nước khi thời cơ chín muồi.

b. Ý nghĩa và tầm quan trọng của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII

* Ý nghĩa: Hội nghị Trung ương Đảng lần VIII có ý nghĩa lịch sử to lớn – đã hoàn chỉnh chủ trương chỉ đạo chiến lược được đề ra từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương 11/1939.

– Kiên quyết giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải

phóng dân tộc lên hàng đầu và cấp thiết hơn bao giờ hết, đề ra nhiều chủ trương sáng tạo để thực hiện nhiệm vụ ấy.

– Giải quyết đúng đắn giữa hai nhiệm vụ chiến lược chống đế quốc và phong kiến.

– Đề ra phương pháp cách mạng cụ thể.

* Tầm quan trọng của Hội nghị: Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Đảng, dấu ấn, vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Là sự trở lại đầy đủ những nội dung đúng đắn, sáng tạo của Cương lĩnh chính trị đầu tiên, có tác dụng quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

c. Điểm mới của Hội nghị Trung ương Đảng lần VIII

+ Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến.

+ Giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước Đông Dương nên ở Việt Nam thành lập ra mặt trận Việt Minh.

+ Đề ra phương pháp cách mạng cụ thể: Tích cực chuẩn bị lực lượng để khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, đi từ khởi nghĩa vũ trang từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa.

+ Muốn khởi nghĩa thành công phải có sự chuẩn bị chu đáo trên tất cả mọi mặt như lực lượng chính trị, vũ trang, căn cứ địa và sự tập dượt của quần chúng nhân dân.

Cuộc vận động giải phòng dân tộc 1930 – 1945 là bước đệm vô cùng quan trọng trong việc thành lập chính quyền Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Tạo tiền đề cho việc thống nhất đất nước sau này.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here