Home Lịch sử lớp 12 Quan hệ quốc tế trong và sau chiến tranh lạnh

Quan hệ quốc tế trong và sau chiến tranh lạnh

136
0

Quan hệ quốc tế trong và sau chiến tranh lạnh

Kiến thức cần nắm vững:

– Chiến tranh lạnh và âm mưu của Mỹ.

– Xu thế hòa hoãn Đông – Tây và sự chấm dứt chiến tranh lạnh.

– Liên hệ với Việt Nam.

  1. Chiến tranh lạnh và âm mưu của Mỹ

* Nguyên nhân:

– Liên Xô và Mỹ là Đồng Minh chống phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng sau chiến tranh, cả hai nhanh chóng chuyển sang đối đầu đi tới tình trạng chiến tranh lạnh. Chiến tranh lạnh là chính sách thù địch, căng thẳng trong quan hệ giữa Mỹ và các nước phương Tây với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

– Trước hết là sự đối lập về mục đích:

+ Liên Xô: Chủ trương duy trì hòa bình an ninh thế giới, bảo vệ chủ nghĩa xã 1 hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng thế giới.

+ Mỹ: Chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cách mạng các nước, thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới. Mỹ e ngại trước sự lớn mạnh của hệ thống chủ nghĩa xã hội.

– Từ sau chiến tranh, Mỹ trở thành nước tư bản giàu mạnh nhất độc quyền về vũ khí nguyên tử, tự cho mình có quyền lãnh đạo thế giới.

– Tháng 3/1947, Tổng thống Mỹ Truman chính thức phát động cuộc “chiến tranh lạnh” chống Liên Xô và các nước chủ nghĩa xã hội, chống phong trào giải phóng dân tộc.

(Trong bài diễn văn đọc trước Quốc hội Mỹ, Truman cho rằng: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, “Chủ nghĩa cộng sản đang đe dọa thế giới tự do” và Liên Xô đang bành trướng thuộc địa ở châu Âu, Mỹ và phương Tây phải liên kết để chống lại sự “đe dọa” đó).

* Mục đích:

– Ngăn chặn, đẩy lùi tiến tới tiêu diệt Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa (mục đích chính).

– Đàn áp phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng, công nhân và cộng sản quốc tế.

– Lôi kéo, nô dịch, không chế các nước Đồng Minh trong quỹ đạo của Mỹ.

Như vậy, mối quan hệ Đồng Minh giữa Liên Xô với Mỹ và các nước phương Tây trong chiến tranh thế giới thứ hai, bây giờ tan vỡ.

* Hành động của Mỹ và Liên Xô trong thời kỳ “chiến tranh lạnh”:

Mỹ:

– Học thuyết Truman (1947): Coi sự tồn tại của Liên Xô là nguy cơ lớn đối với nước Mỹ, viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ nhằm biến hai nước này thành căn cứ tiền phương chống Liên Xô và các nước Đông Âu.

– Đưa ra kế hoạch Mácsan (6/1947) nhằm tập hợp các nước Tây Âu trong liên minh quân sự chống Liên Xô và Đông Âu.

– Mỹ và phương Tây ra sức chạy đua vũ trang với ngân sách quân sự khổng lồ để chuẩn bị cho cuộc “chiến tranh tổng lực” nhằm tiêu diệt Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

– Mỹ lập ra các khối quân sự và các căn cứ quân sự khắp nơi trên thế giới: NATO, SEATO, ANZUS, CENTO (Trung Cận Đông), Liên minh quân sự Mỹ – Nhật. Liên minh quân sự Tây bán cầu; xây dựng hàng ngàn căn cứ quân sự hải, lục, không quân trên khắp thế giới.

– Mỹ phát động hàng chục cuộc chiến tranh xâm lược, can thiệp các nước; bao vây, cấm vận kinh tế; cô lập chính trị; tiến hành chiến tranh tâm lý, tình báo, gián điệp, phá hoại nội bộ… như xâm lược Việt Nam, Lào, Campuchia (1954 – 1975); can thiệp vũ trang ở Grênađa (1983) và Panama (1989); sử dụng Ixraen trong việc gây chiến tranh ở Trung Đông năm 1948, 1967; bao vây kinh tế và phá hoại về chính trị quân sự ở Cu Ba, Hunggari, Tiệp Khắc…

– Mỹ đã thực hiện “chính sách thế mạnh”, chính sách “đẩy  lùi chủ nghĩa cộng sản” dẫn đến chạy đua vũ trang, đối đầu căng thẳng giữa hai khối quân sự NATO và Vacsava, làm cho quan hệ quốc tế luôn luôn phức tạp, gay gắt.

Liên Xô:

– Tiến hành Công cuộc khôi phục kinh tế thắng lợi trong 4 năm 3 tháng, đặc biệt năm 1949 chế tạo thành công bom nguyên tử, phá thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mỹ.

– Thành lập hội đồng tương trợ  kinh tế SEV (1/1949) để hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước xã hội chủ nghĩa.

– Thành lập Tổ chức Hiệp ước Vacsava (5/1955) nhằm tạo thành liên minh chính trị – quân sự mang tính chất phòng thủ của các nước xã hội chủ nghĩa.

– Viện trợ, giúp đỡ các nước Đông Âu tiến hành khôi phục kinh tê, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, ủng hộ các nước thuộc địa giành độc lập dân tộc, ủng hộ phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Triều Tiên, các nước châu Phi…

– Sự ra đời của khối NATO và Tổ chức Hiệp ước Vacsava đã đánh dấu sự xác lập của cục diện hai cực, hai phe. Chiến tranh lạnh bao trùm khắp thế giới.

Kết luận:

Tóm lại: “Chiến tranh lạnh” đã dẫn tới chạy đua vũ trang, gây ra tình trạng đối đầu giữa hai phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu và xã hội chủ nghĩa do Liên Xô làm trụ cột. Đây là cuộc chiến không có khung đột trực tiếp bằng quân sự nhưng diễn ra trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – tư tưởng, chạy đua vũ trang… làm cho quan hệ quốc tế luôn trong tình trạng căng thẳng, gay gắt và phức tạp.

Quan hệ quốc tế trong và sau chiến tranh lạnh
Quan hệ quốc tế trong và sau chiến tranh lạnh
  1. Xu thế hòa hoãn Đông – Tây và sự chấm dứt chiến tranh lạnh

a. Nguyên nhân Xô – Mỹ chấm dứt chiến tranh lạnh.

– Cuộc “chiến tranh lạnh ‘ kéo dài hơn bốn thập kỷ đã làm cho hai nước tốn kém và bị suy giảm thế mạnh trên nhiều mặt so với các cường quốc khác, đang đứng trước thách thức của sự phát triển thế giới.

– Sự vươn lên mạnh mẽ của Nhật Bản và Tây Âu…Các nước này đã trở thành những đối thủ đáng gờm đối với Mỹ. Còn Liên Xô lúc này nền kinh tế ngày càng lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.

– Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và sự giao lưu quốc tế về kinh tế, thương mại, văn hoá ngày càng phát triển rộng rãi. Cuộc “chiến tranh kinh tế” mang tính toàn cầu đòi hỏi phải có cục diện ổn định, đối thoại, hợp tác cùng phát triển.

-> Do vậy, hai siêu cường Liên Xô và Mỹ đều cần phải thoát khỏi thế đối đầu để ổn định và củng cố vị thế của mình.

b. Xu thế hòa hoãn Đông – Tây:

Xuất hiện cùng với những cuộc gặp gỡ, thương lượng Xô – Mỹ.

– Từ những năm 70 của thế kỷ XX, xu hướng hòa hoãn Đông – Tây bắt đầu xuất hiện. Từ các cuộc gặp gỡ Xô – Mỹ, dần dần mở rộng ra các quan hệ Đông – Tây, quan hệ giữa các nước trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

– Vấn đề gây căng thẳng nhất tại châu Âu là quan hệ giữa hai miền nước Đức, ngày 9/11/1972, hai nước ký với nhau Hiệp định về những cơ sở của quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức, tháo ngòi căng thẳng.

+ Do đã đạt thế cân bằng về sức mạnh quân sự thông thường và sức mạnh hạt nhân, Liên Xô và Mỹ ký với nhau các hiệp định Hạn chế vũ khí tiến công chiến lược SALT -1 2 và Hiệp ước về việc hạn chế hệ thống phòng chống tên lửa ABM.

+ Tháng 8/1975, các nước châu Âu cùng Mỹ, Canada ký kết định ước Henxinki, tạo ra cơ chế giải quyết các vấn đề liên quan đến hòa bình, an ninh ở châu Âu.

+ Liên Xô và Mỹ cũng đã tiến hành các cuộc gặp gỡ cấp cao, đối thoại với nhau trong nhiều vấn đề mang tính quốc tế.

– Năm 1989, trong cuộc gặp không chính thức trên đảo Manta (Địa Trung Hải), hai lãnh đạo Liên Xô và Mỹ đã tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh.

– Sau nhiều năm trì trệ và khủng hoảng kéo dài, đến năm 1989-1991, chế độ xã hội chủ nghĩa bị tan rã và sụp đổ ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Thế hai cực của hai siêu cường không còn nữa và Mỹ là cực duy nhất còn lại nhưng cũng giảm sút về sức mạnh. Chiến tranh lạnh hoàn toàn chấm dứt.

Xu thế hòa hoàn đông Tây
Xu thế hòa hoàn đông Tây
  1. Thế giới sau chiến tranh lạnh

– Năm 1991, tình hình thế giới đã diễn ra những thay đổi to lớn và phức tạp, phát triển theo các xu thế chính sau đây:

+ Trật tự thế giới mới đang hình thành theo xu hướng “đa cực”, với sự vươn lên của các cường quốc, tổ chức liên kết khu vực như Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc…

+ Sau chiến tranh lạnh, hầu như các quốc gia đều điều chỉnh chiến lược phát triển, tập trung vào phát triển kinh tế để xây dựng sức mạnh thực sự của quốc gia.

+ Sự tan rã của Liên Xô đã tạo cho Mỹ một lợi thế tạm thời, giới cầm quyền Mỹ ra sức thiết lập trật tự thế giới “một cực” nhưng không dễ dàng thực hiện được.

+ Sau chiến tranh lạnh, hòa bình thế giới được củng cố, nhưng ở nhiều khu vực, tình hình lại không ổn định với những cuộc nội chiến, xung đột quân sự vẫn kéo dài như bán đảo Ban Căng, các nước Châu Phi và Trung Á…

– Sự kiện khủng bố ngày 11/9/2001 ở Mỹ đã đặt các quốc gia dân tộc đứng trước những thách thức của chủ nghĩa khủng bố với những nguy cơ có lường.

– Ngày nay, các quốc gia dân tộc vừa có thời cơ phát triển thuận lợi, vừa phải đối mặt với những thách thức vô cùng gay gắt.

* Liên hệ việt Nam.

Thời cơ: Việt Nam có điều kiện thuận lợi để mở rộng tăng cường sự hợp tác quốc tế tiếp thu những thành tựu khoa học – công nghệ, nhằm xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế…

Thách thức: Sức cạnh tranh yếu, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, luật pháp chưa hoàn thiện. Hội nhập, hợp tác quốc tế nhưng phải đảm bảo được độc lập tự do bản sắc văn hoá dân tộc và lợi ích của dân tộc trước nguy cơ diễn biến hoà bình và các hình thức bóc lột mới. Đòi hỏi Đảng và Chính phủ ta phải vững mạnh, năng động và linh hoạt để nắm bắt kịp thời với những biến động của tình hình thế giới, có đường lối phát triển đất nước đúng đắn, biết nắm bắt thời cơ thuận lợi tạo ra một sức mạnh tổng hợp của quốc gia, có khả năng cạnh tranh về kinh tế trong bối cảnh thế giới là một thị trường, nếu không sẽ bị tụt hậu và lệ thuộc…

Thế giới sau chiến tranh lạnh
Thế giới sau chiến tranh lạnh
  1. Xu thế và đặc điểm phát triển của trật tự thế giới mới

-Từ những năm 90 của thế kỷ XX, đang dần hình thành một trật tự thế giới mới.

+ Sau Chiến tranh lạnh, hầu như các quốc gia đều ra ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm… Mỹ cố gắng vươn lên “Trật tự đơn cực”. Trong khi đó, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Trung Quốc, Nga cố gắng duy trì “Trật tự đa cực”.

+ Các nước lớn đã điều chỉnh các quan hệ đối với nhau theo chiều hướng đối thoại, thỏa hiệp, tránh xung đột trực tiếp hoặc tạo lập những tập hợp lực lượng riêng… Vai trò của Liên hợp quốc được tăng cường và đề cao trong việc duy trì trật tự, an ninh thế giới…

+ Xu thế đối thoại, hợp tác, trên cơ sở hai bên cùng có lợi, cùng tôn trọng lẫn nhau trong cùng tồn hòa bình ngày càng trở thành xu thế chủ yếu trong các mối quan hệ quốc tế.

+ Tuy hòa bình là thu thế chủ đạo của tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh nhưng nhiều khu vực vẫn diễn ra nội chiến và xung đột, sự ổn định các quốc gia bị đe dọa bởi nguy cơ ly khai, khủng bố…

+ Từ thập kỷ 80 thế kỷ XX, nhất là từ sau chiến tranh lạnh, trên thế giới đã diễn ra ngày càng mạnh mẽ xu thế “toàn cầu hóa”… Đây là xu thế khách quan đối với các nước đang phát triển đây vừa là thời cơ vừa là thách thức gay gắt trong sự vươn lên của đất nước.

Những nhân tố hình thành trật tự thế giới mới

Thực lực kinh tế, chính trị, quân sự của các cường quốc (Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc, Đức) trong cuộc chạy đua về sức mạnh quốc gia tổng hợp (sức mạnh tổng hợp về mọi mặt trong đó kinh tế là sức mạnh trụ cột) tiếp tục phát triển.

Sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng thế giới phụ thuộc:

+ Sự thành công của công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước chủ nghĩa xã hội

+ Sự vươn lên của các nước Á, Phi, Mĩ Latinh sau khi giành được độc lập.

+ Sự phát triển của phong trào đấu tranh vì hoà bình, dân chủ, tiến bộ xã hội.

+ Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật sẽ tiếp tục tạo ra những đột phá và biến chuyển trên cục diện thế giới.

Xu thế mới đó đã đặt ra cho cả các quốc gia gia dân tộc trước những thử thách, những thời cơ, những vận hội mới để đưa vận mệnh đất nước mình tiến kịp với thời đại mới. Thời cơ lớn đó là mở rộng quan hệ hữu nghị có thể nhanh chóng đưa vận mệnh đất nước mình tiến lên kịp với thời đại. Song xu thế đó cũng đặt ra cho các quốc gia dân tộc trước những thách thức lớn, hoặc là nhanh chóng tiến lên kịp với thời đại, hoặc là sẽ bị tụt hậu hoặc là “hòa đồng”, hoà nhịp được với xu thế phát triển của thời đại hoặc là bị “hòa tan” đánh mất chính mình, đánh mất cả bản sắc dân tộc của mình.

Sang thế kỷ XXI, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển đang diễn ra thì vụ khủng bố ngày 11/9/2001 ở nước Mỹ đã đặt các quốc gia, dân tộc đứng trước những thách thức của chủ nghĩa khủng bố với những nguy cơ khó lường, gây ra những tác động to lớn, phức tạp với tình hình chính trị thế giới và trong quan hệ quốc tế.

– Tuy nhiên sự nghiệp bảo vệ hòa bình mối quan tâm của toàn nhân loại đang ngày càng phát triển, mặc dù những xung đột vũ trang vẫn xảy ra ở nhiều nơi, song đã xuất hiện những khả năng hiện thực để ngăn chặn một cuộc chiến tranh thế giới mang tính hủy diệt, nhằm bảo vệ sự sống con người và nền văn minh nhân loại.

Câu hỏi củng cố

  1. Bằng những dẫn chứng lịch sử cụ thể, anh/chị hãy chứng minh rằng từ năm 1947 đến năm 1991 là thời kỳ căng thẳng trong quan hệ quốc tế giữa phe đế quốc chủ nghĩa với phe xã hội chủ nghĩa. Hãy nêu các xu thế phát triển của thế giới sau khi “chiến tranh lạnh” chấm dứt. Trong quá trình hội nhập với thế giới hiện nay, nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức nào?
  2. Chiến tranh lạnh là gì? Phân tích những ảnh hưởng của “chiến tranh lạnh” đến tình hình châu Á?
  3. “Chiến tranh lạnh” giữa hai nước Mỹ và Liên Xô chấm dứt như thế nào?
  4. Việc chấm dứt “chiến tranh lạnh”đã có tác động đến các mối quan hệ quốc tế như thế nào?

Quan hệ quốc tế trong và sau chiến tranh lạnh  là một bài học vô cùng quan trọng . Nắm vững được nội dung kiến thức này các em sẽ hoàn thành tốt 1 phần bài thi trắc nghiệm của mình trong kỳ thi THPT Quốc gia sắp tới.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here