Home Lớp 12 Bài văn mẫu: Cảm nhận về chuyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Bài văn mẫu: Cảm nhận về chuyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

149
0

Bài văn mẫu “Cảm nhận và suy nghĩ về nhân vật người đàn bà trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu”

Bài văn mẫu số 1

“Không thuộc số nhà văn lóe sáng từ tác phẩm đầu tiên, không sớm thành danh như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu giống như người tri ân, tri kỷ với độc giả nhưng phải cùng nhau vượt qua một cái dốc núi khá cheo leo. Cũng có thể ví von ông là một tác giả đã tặng ta một thứ rượu ngon, được chưng cất kỹ lưỡng khi uống phải chậm rãi, nhấm nháp và khi ngấm là say”. Ý kiến đánh giá này của Phan Sư Đệ đã khẳng định được vị trí và tầm vóc của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Trong số các tác phẩm làm nên tên tuổi của ông phải kể đến truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. Tác phẩm đã gây được ấn tượng sâu sắc với người đọc qua hình tượng nhân vật “người đàn bà”.

Nhân vật “người đàn bà” không phải là nhân vật chính của câu chuyện nhưng khi đọc Chiếc thuyền ngoài xa, người đọc sẽ không thể nào quên được nhân vật này, một con người có số phận bất hạnh, khổ cực song vẫn tỏa sáng lấp lánh những phẩm chất cao đẹp.

Nhân vật “người đàn bà” là số phận đại diện cho trăm ngàn người đàn bà hàng chài sống lênh đênh trên sông nước. Nhân vật này không xuất hiện ngay từ đầu truyện và xuất hiện trong một tình huống éo le, oái ăm. Người đàn bà bước xuống từ Chiếc thuyền ngoài xa tuyệt đẹp – là tâm điểm của bức ảnh nghệ thuật mà nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng sau hơn một tuần lễ “phụ kích” đã tìm thấy được. Nhưng Phùng không thể nào ngờ tới đằng sau vẻ đẹp tuyệt đích của bức ảnh nghệ thuật lại là một câu chuyện đời thường, một số phận bi thương, ai oán.

“Người đàn bà” là một phụ nữ xấu số, khuôn mặt bị rỗ chằng chịt, là kết quả của một trận đậu mùa từ tấm bé. Lớn lên, làm vợ một người đàn ông làng chài. Số phận bi thảm của người đàn bà có thể gọi bằng nạn bạo hành gia đình. Bà bị chồng đánh đập hành hạ “ba ngày một trận nhẹ”, “năm ngày một trận nặng”, nhưng vẫn không kêu lên một tiếng, vẫn không oán trách, không tìm cách trốn chạy. Ngay cả khi được tòa án động viên, khuyên nhủ, người đàn bà ấy vẫn kiên quyết không chịu rời bỏ người chồng vũ phu, độc ác.

Có thể ta ngạc nhiên và thấy kỳ lạ trước hành động và thái độ không bình thường của người đàn bà này nhưng khi những lời tâm sự thật tình của bà, thì chánh án Đẩu, nghệ sĩ Phùng và tất cả chúng ta mới vỡ lẽ ra căn nguyên của sự việc. Qua những lời kể của người đàn bà, ta phần nào hình dung được về người đàn ông – chồng bà là một người đàn ông cộc tính nhưng hiền lành ‘chẳng bao giờ đánh đập tôi cả”, nhưng giờ đây, vẫn người đàn ông ấy đã trở thành một kẻ vũ phu, độc ác, vô nhân tính. Cái gì cũng có nguyên nhân, sự thay đổi đó, cái đói khiến cho con người ta quên đi tất cả, khiến người ta cáu gắt, lạnh lùng, bực bội. Tội ác sinh ra từ đó, ‘bất kể lúc nào cảm thấy bực bội là lão lại vác tôi ra đánh”. Những lời người đàn bà kể xoáy sâu hơn vào nỗi đau của con người trước tình cảnh đói nghèo – “cả nhà vợ chồng con cái đều phải ăn xương rồng luộc chấm muối”, đẻ nhiều, đông con, làm ăn khó khăn “trời làm cho biển động cả tháng trời”. Người đàn bà nhìn suốt vào cả cuộc đời mình: “chỉ tại tôi đẻ nhiều quá, cả nhà không thể sắm một chiếc thuyền rộng hơn”. Đó là một sự thật phũ phàng, là hiện tượng phổ biến không thể tránh khỏi của những con người làm nghề chài lưới. Vì thế, gánh nặng cơm áo luôn đè nặng lên vai người đàn ông khiến ông ta không khỏi rơi vào bế tắc, ông ta phải trút mọi uất ức, đau khổ lên một nơi nào đó để giải thoát minh, và nơi trút không đâu khác hơn là người vợ. Và thế là ta hiểu vì sao khi vừa bước xuống bờ, “đôi mắt dữ dằn của lão cứ dán chặt vào tấm lưng bạc phếch và rách rưới của người đàn bà”. Lão tìm thất ở vợ căn nguyên đau khổ của cả cuộc đời mình. Đến khi hai người khuất vào sau chiếc xe rà phá mìn, lão đàn ông “lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay…” hắn trút mọi giận dữ bằng cách rút chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, hắn vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, mỗi nhát quật xuống hắn lại rên rỉ trong đau đớn, uất ức: “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ!”. Nghe trong mỗi tiếng rên xiết của lão đàn ông độc ác, ta vẫn thấy được nỗi đau xót, bế tắc, bất lực trước hiện thực cuộc sống nghèo đói, túng quẫn của lão. Vì thế, ta hiểu rằng đánh vợ là cách mà lão đàn ông giải tỏa gánh nặng, đánh vợ nhưng chính ông cũng không cảm thấy sung sướng, nhẹ nhõm gì!

Còn người đàn bà, khi bị chồng đánh đập, hành hạ cũng không hề kêu lên một tiếng, không hề chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy, phải chăng người đàn bà ấy bị đánh đòn nhiều quá nên thành quen, hay bà ta tăm tối, dốt nát đến mức không còn nhận thức được về quyền sống của mình. Có lẽ không phải thế? Khi Kiều bị đánh đập, Nguyễn Du đã phải thốt lên rằng:

Thịt da ai cũng là người
Lòng nào chẳng rụng, thắm vào chẳng rơi.

Đúng thế, người đàn bà cũng là con người như tất cả chúng ta, có cảm giác, có đau đớn, có khả năng tự vệ. Nhưng vì cuộc sống của bà quá lênh đênh, quá chìm nổi bất trắc trên một chiếc thuyền, với một sắp con nhỏ trên dưới chục đứa, liệu rằng người đàn bà ấy có cách nào khác để thay đổi cuộc sống.

Nhân dân ta có câu “cá chuối đắm đuối vì con”, có lẽ người đàn bà ấy ý thức được hơn bất kỳ ai thiên chức làm mẹ của mình, vì thế “trên thuyền phải có một người đàn ông chèo chống phong ba bão táp để cùng làm ăn và nuôi nấng đặng sắp con nhỏ’. Bà ý thức sâu sắc số phận và trách nhiệm của mình đối với con “đàn bà hàng chài sống trên truyền chỉ có thể sống vì con chứ không thể sống vì mình như đàn bà trên đất được”. Người đàn bà ấy sẵn sàng chịu khổ, chịu hành hạ cũng vì những đứa con. Thấp thoáng trong hình ảnh người đàn bà là bóng dáng của hàng ngàn hàng triệu người phụ nữ Việt Nam đôn hậu, giàu tình thương, cam chịu và giàu đức hy sinh.

Nhẫn nhục đối với chồng nhưng người đàn bà rất tự trọng đối với con, lo lắng cho tương lai của chúng. Bà nơm nớp lo sợ những hành động bạo lực của người cha sẽ gây tổn thương tinh thần cho những đứa con. Vì lẽ đó, khi những đứa con dần lớn lên, người đàn bà xin với chồng ‘đưa lên bờ mà đánh”. Bà không muốn con chứng kiến nỗi đau khổ của cả một cuộc đời bà, đối với bà: chẳng gì đau đớn hơn sự tổn thương đầu đời gây ra cho những đứa con. Bà không cho phép con làm gì có lỗi với bố, dù sao đi chăng nữa, người đàn ông ấy vẫn là bố của chúng, vẫn là cái trụ cột vững vàng của cả cái gia đình đông đúc này. Bà âm thầm chịu đựng những đau khổ, giày vò về thể xác lẫn tinh thần, chỉ với một mong mỏi duy nhất là nuôi lớn đàn con. Bà dành tình yêu thương cho đàn con, nhất là đối với thằng Phác. Trong đau khổ, tủi nhục song cũng có lúc người đàn bà ấy cảm thấy hạnh phúc. Đó là những lúc nhìn thấy những đứa con được ăn no, ấy là một hạnh phúc đời thường nhỏ bé và giản dị biết bao nhưng đối với người đàn bà bất hạnh, điều đó trở thành nghị lực sống, vực bà dậy từ những cơ cực, tủi nhục.

Người đàn bà làng chài ý thức được thiên chức làm mẹ cao cả của mình và nắm giữ lấy những khoảnh khắc hạnh phúc bé nhỏ trong cuộc sống. Đó chính là lý do khiến những hành động và suy nghĩ của bà đều hướng về một niềm tin gắn bó với thuyền, với người chồng độc ác, vũ phu. Khi được toà án mời đến và vị thẩm phán vô cùng cảm thông chia sẻ với nỗi đau và cuộc sống của người đàn bà, và vẫn kiên quyết từ chối việc ly hôn chồng. Vị thẩm phán đã nhận được câu trả lời tưởng chừng vô lý mà lại vô cùng thấm thía: “các chú có lòng tốt nhưng các chú đâu phải là người làm ăn, đâu thể hiểu được việc của những người làm ăn lam lũ khó nhọc”. Trước một người đàn bà làng chài thất học, lam lũ mà trải đời, vị thẩm phán thông minh thật bé nhỏ, tầm thường, có thể anh là một người thông hiểu pháp luật nhưng anh chưa thực sự thấu suốt lẽ đời. Anh thấy “có cái gì đó mới vỡ ra trong đầu”. Anh thấm thía hơn bao giờ hết nghịch lý của cuộc sống, những nghịch lý khó có thể chấp nhận tựa như “các chú không phải đàn bà, không thể nào hiểu được những khó nhọc của người đàn bà trên thuyền không có đàn ông”. Và anh bắt đầu nhận ra rằng cuộc chiến chống đói nghèo thực ra là một cuộc chiến rất cam go, vất vả, phải có một giải pháp thực tế hữu hiệu chứ không thể giải quyết bằng những thiện chí và những lý thuyết đẹp đẽ xa rời thực tế. Cuộc chiến ấy còn khó khăn hơn cuộc chiến chống ngoại xâm, bởi lẽ khi chưa thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn bế tắc của đói nghèo, con người ta vẫn phải sống chung với cái xấu, cái cũ.

Cuộc sống và số phận của người đàn bà làng chài cũng đem đến cho Phùng, người nghệ sĩ nhiếp ảnh cái nhìn mới mẻ về nghệ thuật, con thuyền nghệ thuật có thể ở rất xa, con người khó có thể với tới được nhưng hiện thực cuộc sống ở rất gần ta, xung quanh ta và gắn bó với ta. Đó cũng chính là mối quan hệ mật thiết giữa nghệ thuật và cuộc sống, “nghệ thuật sẽ chẳng là gì nếu không vì cuộc sống mà có” (Phạm Văn Đồng).

Qua số phận đầy cay đắng của người đàn bà làng chài, Nguyễn Minh Châu đã ca ngợi phẩm chất cao đẹp của những con người lao động bình thường và đồng cảm sẻ chia với những người phụ nữ làng chài. Thấp thoáng ở đó, ta vẫn thấy ở người phụ nữ nghèo khổ lam lũ ấy những phẩm chất cao đẹp, rất tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam: đảm đang, giàu tình yêu thương và đức hi sinh cao đẹp. Qua hình tượng người đàn bà nhà văn đã chia sẻ, cảm thông với những số phận đau khổ tủi nhục của những người lao động vô danh đông đảo trong xã hội, đồng thời cũng phát hiện, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lao động. Mặt khác, Nguyễn Minh Châu còn đặt ra trách nhiệm cho đông đảo tầng lớp văn nghệ sĩ phải có cái nhìn đa chiều, đa diện về cuộc sống: “Con người thì đa đoan, cuộc đời thì phải đa sự”.

Bài văn mẫu số 2

Sinh thời Nguyễn Minh Châu luôn tâm niệm phải “cố gắng đi tìm cái hạt ngọc ẩn giấu trong cái bề sâu tâm hồn con người”. Thật thú vị khi đọc truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa ta lại được sống trong những giây phút hạnh phúc của sự tìm kiếm đó – tìm kiếm vẻ đẹp của người đàn bà trong cuộc hành trình đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người của Nguyễn Minh Châu.

Trước khi hòa bình, Nguyễn Minh Châu cũng đã từng có một tác phẩm kiệt xuất Mảnh trăng cuối rừng với nhân vật Nguyệt – cô gái xinh đẹp đã cùng thức gần trọn một đêm giữa chiến trường mưa bom bão đạn. Cả hai tác phẩm đều được viết trong sự đối lập giữa người và cảnh. Nếu trong Mảnh trăng cuối rừng cô Nguyệt hiện lên như một ánh sáng rực rỡ bay qua vùng trời tối tăm, như viên ngọc sáng chói giữa chiến trường chống Mỹ ác liệt đầy bão đạn, hố bom thì người đàn bà trong Chiếc thuyền ngoài xa lại hiện lên như một vết loang trên bức tranh toàn bích: Cảnh thuyền biển thu lưới lúc bình minh. Nhưng dù là sự đối nghịch giữa cái đẹp và cái xấu, giữa con người và cảnh vật nhưng cả hai câu chuyện đều đã tạc dựng nên hình ảnh tâm hồn tuyệt đẹp của những người phụ nữ Việt Nam. Người đàn bà kia dẫu có như vết mực loang trên bức tranh toàn bích thì tâm hồn và vẫn sáng rực. Người đàn bà vùng biển ấy không được may mắn như những người phụ nữ khác là có nhan sắc. Bà chắc ngoài bốn mươi tuổi, xấu, “thân hình cao lớn với những đường nét thô kệch”. Người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay luôn được đánh giá ở những phương diện “công, dung, ngôn, hạnh” người đàn bà đã mất đi cái “dung” nhưng không vì thế mà những phẩm chất còn lại của bà cũng mờ nhòa. Bà cũng đã từng là con gái gia đình khá giả nhưng do quá xấu lại mặt rỗ sau trận đậu mùa nên không ai đến hỏi cưới. Nỗi đau khổ của một người con gái “quá thì lỡ lứa” khó có thể tả cho xiết. Nhưng cuối cùng bà cũng có được một gia đình với người chồng và đàn con “trên dưới chục đứa”.

Cuộc sống làm nghề chài lưới, lênh đênh trên chiếc thuyền thật là cơ cực. Đã có những lúc họ phải ăn xương rồng chấm muối để sống qua những ngày “vu Bắc” biển động liên miên. Gia đình của người đàn bà tất nhiên cũng không tránh khỏi. Họ đã phải ăn xương rồng, thứ cây được trồng để dành cho súc vật vậy mà gia đình bà phải ăn khổ sở, nhưng cái nghèo đói đâu chỉ bắt tội con người ta ở đấy. Nó đã làm cho người chồng của bà ngày xưa tuy có “cục tính” nhưng “vẫn hiền lành lắm” đã trở nên thô lỗ cục cằn, đánh đập vợ con để trút phiền và giải tỏa bớt cái khổ. Trước đây, ta đã gặp Chí phèo và bây giờ ta thấy sự tha hóa ấy trong người chồng của người đàn bà làng chài. Cái khổ đã làm ông ta mất đi nhân tính để trở nên ác độc, cục cằn, thô lỗ. Thật là một hoàn cảnh éo le cho người phụ nữ, cái gia đình mơ ước của người đàn bà giờ đây đang đứng trước bờ vực của sự tan vỡ. Người chồng vũ phu ấy “cứ khi nào khổ quá” là lại đem bà ra đánh. Người ta sẽ kêu gào, than khóc khi bị đau đớn, bị hành hạ nhưng ở đây người đàn bà ấy lại khóc, không van xin, không bỏ chạy, bà cứ ngồi đấy cho lãi chồng mặc sức quất thắt lưng vào người. Tại sao lại có sự nghịch lý như vậy? Tất cả chỉ bởi một điều là những đứa con của bà cần có cha nó, cần được ăn và được lớn. Tình yêu thương con cái vô bờ bến của bà đã làm cho bà có thể chịu đựng mọi sự đau đớn. Dù trong hoàn cảnh nào bà vẫn nghĩ cho những đứa con, bà lo cho sự hoàn thiện nhân cách của chúng. Bà không muốn những đứa con của mình phải chứng kiến cảnh cha chúng đánh mẹ vì vậy bà đã xin ông chồng đưa bà lên bờ mà đánh. Điều đó bộc lộ tình yêu thương con cái vô bờ bến của bà.

Người đàn bà ấy không khóc khi bị chồng đánh nhưng những giọt nước mắt ấy lại nhỏ xuống khi nghĩ về những đứa con. Thằng Phác – đứa con giống cha nó y hệt lại là đứa mà bà yêu nhất. Bà sợ rằng một ngày nào đó, vì để bảo vệ mẹ, mà nó sẽ làm việc trái với luân thường đạo lý đó là giết cha nó. Khi chứng kiến cảnh cha đánh mẹ nó đã lao đến như một mũi tên giành lấy cái thắt lưng trong tay cha nó mà vung mạnh cái khóa vào khuôn ngực trần rám nắng, có những đám lông đen như hắc in. Hành động bảo vệ mẹ của nó đã làm người đàn bà  rơi “những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ”. Bây giờ thì ta mới thực sự hiểu người mẹ có thể không khóc vì bất cứ điều gì nhưng nhất định sẽ khóc khi những đứa con của mình phải khổ, phải đau đớn. Những giọt nước mắt của bà như một thứ nước rửa ảnh quái đản đã làm tan biến thước phim tuyệt đẹp về cảnh biến kia, khiến cho nhà nhiếp ảnh Phùng phải giật mình mà nhận ra rằng: Cuộc sống luôn có tính chất hai mặt, trong cái đẹp luôn bao chứa những cái xấu xa, trong cái hạnh phúc lại là phần khổ đau.

Tại tòa án huyện, một lần nữa ta lại được chứng kiến và khám phá ra phẩm chất rạng ngời của một người mẹ Việt Nam trong người “đàn bà”. Vị chánh án Đẩu, người đã rất bất bình trước việc đánh đập vợ dã man của người đàn ông kia “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” đã làm một việc sai với nghĩa vụ của mình, thay vì khuyên răn người ra hòa hợp, Đẩu hết lời đưa ra những lý lẽ thuyết phục để người đàn bà bỏ ông chồng vũ phu ấy.

Thế nhưng, kiên quyết và mãnh liệt, người đàn bà ấy trở nên sắc sảo và đưa ra lý lẽ cho cái việc quyết không bỏ chồng của mình, bà nói: “Người đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần có một người đàn ông để chèo chống khi phong ba, cùng làm ăn nuôi đặng một đàn con mà nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”. Bây giờ thì ta mới thực sự hiểu nguồn gốc của mọi sự hy sinh của bà là những đứa con. Bà chấp nhận cho chồng đánh đập nhưng nhất quyết không bỏ hắn, chấp nhận xa con để cho nó được sống sướng hơn và không làm gì trái với luân lý, bà luôn lo lắng cho nhân cách của con cái. Quả là một người mẹ hiền yêu thương con hết mực và giàu đức hy sinh.

Sống trong cuộc đời này ai chẳng có một mơ ước và mong ước của người đàn bà ấy lại thật là giản dị nhưng cao quý biết bao, mơ ước của người đàn bà là trông thấy những đứa con ăn no, lớn khôn. Người mẹ ấy luôn biết chắt chiu, những hạnh phúc dù là nhỏ nhất, như một tia sáng ửng lên trên khuôn mặt một nụ cười, bà nghĩ về cảnh “hạnh phúc nhất là được ngồi nhìn con cái mình, chúng được ăn no”. Người đàn bà ấy tuy không có nhan sắc, khuôn măt lúc nào cũng mệt mỏi vì phải thức đêm kéo lưới nhưng tâm hồn lại sáng chói. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là người mẹ Việt Nam giàu đức hy sinh, lòng vị tha và bao dung.

Có thể thấy, người đàn bà trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là một người phụ nữ không nhan sắc nhưng lại có lòng yêu thương con cái vô bờ bến, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của mình vì những đứa con. Bà là biểu tượng đẹp về nhân cách, phẩm giá của những người phụ nữ Việt Nam. Truyện ngắn đã thể hiện ngòi bút tài hoa của Nguyễn Minh Châu khi xây dựng tình huống nghệ thuật độc đáo, ngôn ngữ trần thuật giàu sắc điệu và được chỉ đạo dưới một tư tưởng “chỉ ra mặt tốt mặt xấu để góp phần hoàn thiện nhân cách con người làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn”. Với nghệ thuật và hình tượng người đàn bà vùng biển, tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu sẽ mãi là tác phẩm kiệt xuất của nền văn học Việt Nam hôm nay và mai sau.

(Sưu tầm)

Trên đây là hai bài văn mẫu cảm nhận về tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa. Với những tham khảo vừa rồi, chúc các em có một tiết học văn bổ ích, đạt kết quả cao trong học tập.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here